Blog Trang 1650

iOS 10.3 sẽ thông báo cho người dùng khi nào nên xóa ứng dụng

iOS 10.3 sẽ thông báo cho người dùng khi nào nên xóa ứng dụng

Tính năng mới của iOS 10.3 sẽ giúp người dùng xóa bớt những ứng dụng lỗi thời trên các thiết bị iOS. Điều này nhằm gây áp lực cho các nhà phát triển trong việc cập nhật thường xuyên các ứng dụng cũ.

iOS 10.3 sẽ thông báo cho người dùng khi nào nên xóa ứng dụng

Ở bất kỳ thiết bị iOS nào cũng đều có một số ứng dụng đã lâu không được cập nhật. Chúng sẽ bị lỗi và làm chậm thiết bị của bạn, hoặc không tương thích với các phiên bản iOS mới nhất.

Khi các ứng dụng không được cập nhật, chúng sẽ hoạt động không được chính xác như trước. Tuy nhiên, bắt đầu từ iOS 10.3, người dùng sẽ biết được khi nào nên gỡ bỏ các ứng dụng đã lỗi thời.

Trên thiết bị iOS của bạn, vào Settings > General > About > Application. Người dùng sẽ phải đợi một lúc để màn hình tải ra hết các ứng dụng và mục Application chuyển sang dạng nút. Lúc này, danh sách các ứng dụng cũ hoặc làm chậm máy sẽ xuất hiện trong mục Application này

iOS 10.3 sẽ thông báo cho người dùng khi nào nên xóa ứng dụng

Tiếp theo, bạn chạm vào từng ứng dụng để kiểm tra các bản cập nhật. Nếu không có bản cập nhật hoặc các ứng dụng không còn tồn tại trên App Store, Apple sẽ hướng dẫn người dùng liên hệ với nhà phát triển hay gỡ bỏ các ứng dụng.

iOS 10.3 sẽ thông báo cho người dùng khi nào nên xóa ứng dụng

Theo Cnet

Tìm lại chiếc smartphone Android bị thất lạc của bạn

Các bước để tìm lại chiếc smartphone Android bị thất lạc của bạn

Chiếc smartphone chạy hệ điều hành Android của bạn bị thất lạc? Sau đây là những cách để kiếm lại nó.

Các bước để tìm lại chiếc smartphone Android bị thất lạc của bạn

Chắc sẽ có những lúc bạn cho tay vào túi quần để lấy chiếc điện thoại của mình ra nhưng bất ngờ trong túi không có gì cả. Bạn sẽ làm gì trong tình huống này? Trừ khi bạn đã cài đặt ứng dụng theo dõi trước đó, còn nếu không thì điện thoại của bạn hiện đã thất lạc.

Bạn vẫn có thể kiếm lại chiếc smartphone của bạn bằng các công cụ tích hợp sẵn của Google, hoặc ít ra bạn có thể bảo mật dữ liệu của bạn. Sau đây là những gì bạn cần làm.

Trước tiên, hãy kiếm một thiết bị điện tử có thể truy cập internet. Máy tính để bàn, máy tính bảng hoặc thậm chí một chiếc smartphone khác.

Cách dễ nhất khi điện thoại của bạn bị mất là tìm kiếm trên google “Where’s my phone?” (Điện thoại của tôi ở đâu?) hoặc “lost android phone” (điện thoại Android bị mất) trên máy tính cá nhân.

Bấm chọn vào liên kết tìm kiếm đầu tiên – Android Device Manager – Google (Trình quản lý thiết bị Android) – Bạn sẽ được nhắc đăng nhập bằng tài khoản Google của mình và kết quả tìm kiếm sẽ hiển thị cho bạn một bản đồ tại địa điểm mà điện thoại của bạn đang ở đó

Các bước để tìm lại chiếc smartphone Android bị thất lạc của bạn

Còn nếu bạn đang sử dụng một chiếc smartphone khác để tìm kiếm, bạn nên chuyển đến giao diện web của “Trình quản lý thiết bị Android”. Giao diện hiện ra giống như giao diện trên máy tính cá nhân. Nếu bạn ở gần với điện thoại thất lạc của bạn, Trình Quản Lý Thiết Bị Android sẽ đề xuất cho bạn một lệnh gọi tới thiết bị. Kích hoạt tính năng đó và điện thoại của bạn sẽ đổ chuông ở mức âm lượng tối đa trong vài giây, ngay cả khi nó ở chế độ im lặng.

Đó là nếu giả định điện thoại của bạn vẫn đang còn mở và có chế độ định vị GPS với một đường truyền dữ liệu mạng tốt. Nếu Google vẫn không phát hiện được smartphone của bạn hiện giờ đang ở đâu thì miễn là bạn chưa tắt lịch sử vị trí, luôn có một bản ghi lại mà chỉ có mình bạn biết về những nơi điện thoại của bạn đã đi qua.

Chỉ cần sử dụng tính năng “Lịch sử vị trí” của Google tại đây. Điều này cho phép bạn biết được lần cuối cùng điện thoại của bạn ở đâu, điều có thể giúp ích cho bạn trong việc tìm kiếm điện thoại thất lạc của bạn.

Nếu bạn lo lắng điện thoại của bạn có thể đã nằm trong tay của người khác, bạn có thể khóa máy từ xa. Giả sử điện thoại của bạn vẫn còn kết nối với internet, đăng nhập vào Trình quản lý thiết bị Android, nhấp vào lệnh Khóa và bạn có thể gửi một thông báo lên màn hình smartphone và mật khẩu mới để mở khóa lại máy khi kiếm được.

Các bước để tìm lại chiếc smartphone Android bị thất lạc của bạn

Nếu tới đây mà vẫn chưa có gì tốt lành thì bạn nên thực hiện những điều sau:

– Trước tiên, đi tới cài đặt tài khoản Google của bạn và đăng xuất tài khoản của bạn ra khỏi thiết bị.

– Tìm chiếc điện thoại bị thất lạc trong danh sách hoạt động của các thiết bị và xóa nó đi. Điều này ngăn không cho điện thoại thất lạc tiếp tục đồng bộ hóa dữ liệu của bạn nữa.

– Tiếp theo, sử dụng Trình Quản Lý Thiết Bị Android để xóa sạch dữ liệu điện thoại từ xa. Nếu điện thoại của bạn không trực tuyến thì việc xóa sẽ được kích hoạt vào lần trực tuyến tiếp theo.

– Cuối cùng, bạn cũng nên thay đổi mật khẩu tài khoản Google để đảm bảo an toàn trong trường hợp lệnh xóa không thành công.

Hãy làm theo những bước trên và bạn sẽ có cơ hội tốt nhất để tìm lại được chiếc điện thoại bị mất của mình, hoặc ít nhất giữ được dữ liệu của bạn an toàn trong trường hợp bạn vẫn không thể tìm thấy nó.

Theo Forbes

Tính năng Town Hall của Facebook giúp tìm kiếm quan chức địa phương

Tính năng Town Hall của Facebook giúp tìm kiếm quan chức địa phương

Tính năng mới có tên Town Hall vừa được cập nhật vào ứng dụng di động của Facebook, giúp người dùng tìm và liên hệ với chính quyền địa phương.

Tính năng Town Hall của Facebook giúp tìm kiếm quan chức địa phương

Facebook vừa cập nhât thêm một số tính năng mới dành cho ứng dụng trên di động. Ngoài City Guides và Weather, Town Hall là tính năng cho phép người dùng có thể tìm kiếm và liên hệ chính quyền địa phương của họ.

Các tính năng này phù hợp với những gì mà CEO Mark Zuckerberg đã công bố hồi cuối tháng trước, đó là “mong muốn xây dựng một hạ tầng xã hội để cho phép mọi người tạo ra một cộng đồng toàn cầu có lợi cho tất cả mọi người”.

Với Town Hall, người dùng có thể nhập địa chỉ của mình để xác định vị trí các quan chức chính phủ đại diện cho khu vực. Facebook cho biết họ không chia sẻ địa chỉ của người dùng dù thông tin này đã được lưu.

Nhiệm vụ của Town Hall là dùng để xác định các cấp chính quyền tại địa phương. Khi có kết quả tìm kiếm, người dùng có thể sử dụng danh sách để theo dõi trang Facebook, hoặc liên hệ bằng cách gọi điện thoại, gửi email hay tin nhắn.

Tính năng Town Hall của Facebook giúp tìm kiếm quan chức địa phương

Tùy vào thông tin trên Facebook mà sẽ có các loại tùy chọn khác nhau. Ví dụ, người dùng có thể liên hệ với Thượng nghị sĩ Kristen Gillibrand qua ba phương pháp trên, nhưng lại chỉ có một tùy chọn truy cập vào trang Facebook của Thị trưởng thành phố New  York Bill de Blasio.

Tuy nhiên, nếu các quan chức địa phương không có Facebook, rất có thể người dùng sẽ không nhìn thấy thông tin xuất hiện trên kết quả tìm kiếm. Ngoài ra, các thông tin liên lạc với quan chức địa phương đều được công khai trên các trang web.

Town Hall hiện đang ra mắt cho người dùng tại Mỹ, có lẽ mạng xã hội này cũng sẽ sớm mở rộng ra cho toàn bộ các quốc gia khác như thường lệ.

Theo TheVerge

Apple thuê chuyên gia bảo mật Jonathan Zdziarski

Apple thuê chuyên gia bảo mật an ninh Jonathan Zdziarski

Jonathan Zdziarski là chuyên gia hàng đầu về bảo mật và phân tích hệ thống an ninh Apple và iOS trong nhiều năm, hiện tại ông đã tham gia vào chuyên môn của mình trong Apple.

Apple thuê chuyên gia bảo mật an ninh Jonathan Zdziarski

Zdziarski đã viết nhiều sách về iOS và là một người thẳng thắn ủng hộ Apple trong vụ xung đột với FBI năm ngoái. Ông đã tuyên bố trên blog cá nhân rằng ông đang tham gia đội ngũ an ninh kỹ thuật Apple để đảm bảo an toàn và riêng tư của người dùng.

“Quyết định này đánh dấu sự kết thúc những phân vân của tôi trong thời gian qua. Bảo mật là bất khả xâm phạm. Cuộc sống số của chúng ta có thể tiết lộ rất nhiều về chúng ta – những sở thích, những suy nghĩ sâu xa nhất của chúng ta, và thậm chí những người mà chúng ta yêu mến. Tôi rất vui khi được làm việc với một nhóm người đặc biệt, chia sẻ đam mê để bảo vệ thông tin người dùng, “ông viết.

Apple thuê chuyên gia bảo mật an ninh Jonathan Zdziarski

Trước đó trong sự nghiệp của mình, Zdziarski đã làm việc về mảng jailbreaking trên iPhone và vào năm 2014, ông đã chỉ ra backdoor trong các sản phẩm của Apple. Apple cho biết vào thời điểm đó các lỗ hổng năng mà Zdziarski phát hiện đều tiềm ẩn nguy cơ bảo mật. Gần đây, Zdziarski đã phát triển Little Flocker, một ứng dụng bảo mật cho macOS.

Mặc dù Apple từ chối đưa bình luận về việc này, việc này rất có ý nghĩa khi công ty dùng những chuyên gia hàng đầu thế giới để tăng tính bảo mật cho các sản phẩm của hãng. Zdziarski cũng từ chối bình luận về động thái này, nhưng cho biết trong bài viết của ông, ông “rất vui mừng được làm việc với một đội ngũ có cùng quan điểm.”

Theo: techcrunch

Xuất hiện malware ẩn trong hình ảnh được chia sẻ qua WhatApps và Telegram

Xuất hiện malware ẩn trong hình ảnh được chia sẻ qua WhatApps và Telegram

Các hacker đã lợi dụng tính năng mã hóa đầu cuối của WhatApps và Telegram để lan truyền malware tới người dùng.

Xuất hiện malware ẩn trong hình ảnh được chia sẻ qua WhatApps và Telegram

WhatsAppTelegram là hai ứng dụng nhắn tin tức thời sở hữu tới hơn 1 tỷ người dùng. Cả hai đều cung cấp các hình thức giao tiếp được mã hóa, nhắn tin thuận tiện hơn và hàng loạt các tính năng khác.

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới cho thấy mới đây đã xuất hiện một hình ảnh bị nhiễm phần mềm độc hại được gửi qua WhatsApp và Telegram. Tập tin hình ảnh này đủ khả năng để đánh cắp tài khoản web của WhatsApp hoặc Telegram của bất kỳ ai.

Chỉ mất vài giây là kẻ tấn công có thể kiểm soát hoàn toàn tài khoản của nạn nhân và truy cập vào hình ảnh, video, tệp âm thanh và danh bạ. Tính năng mã hóa đầu cuối của hai ứng dụng này là nguyên nhân chính tạo ra lỗ hổng này.

Lỗ hổng này chỉ xuất hiện trên các phiên bản dành cho máy tính cá nhân của ứng dụng, vì vậy nếu bạn không sử dụng WhatsApp hoặc Telegram trên máy tính thì bạn đã an toàn.

Các nhà nghiên cứu bảo mật phát hiện ra rằng mã độc hại có thể được nhúng vào bên trong một hình ảnh. Khi người dùng click vào, tệp hình ảnh sẽ thực thi mã độc lên máy tính và kẻ tấn công sẽ được toàn quyền truy cập vào dữ liệu lưu trữ của WhatsApp và Telegram. Kẻ tấn công sau đó có thể gửi tệp tin nhiễm độc này tới tất cả các những địa chỉ trong danh bạ của nạn nhân nhằm lây lan malware tới những mục tiêu khác.

Xuất hiện malware ẩn trong hình ảnh được chia sẻ qua WhatApps và Telegram

Được phát hiện bởi Check Point, lổ hổng này đã được báo tới WhatsApp và Telegram vào ngày 8 tháng 3 và cả hai công ty đã cập nhật các bản sửa lỗi cho phiên bản trên máy tính cá nhân.

Điều thú vị là chính tính năng mã hoá đầu cuối của các ứng dụng này đã có thể giúp các hacker tận dụng lỗ hổng này. Bởi vì nội dung của cuộc trò chuyện được mã hóa từ đầu đến cuối, có nghĩa là cả WhatsApp lẫn Telegram đều không thấy được malware ẩn trong một hình ảnh bị nhiễm độc được chia sẻ trong ứng dụng. Cả hai công ty đều không biết tập tin được chia sẻ đó là gì và cho phép malware được chuyển qua lại giữa những người dùng.

Do đó, Check Point đã giải thích rằng về sau thì những nội dung sẽ được xác nhận trước khi được mã hóa để có thể chặn các tập tin độc hại được phát tán thời gian.

Theo BGR

Mỹ cáo buộc 2 điệp viên Nga và 2 hacker xâm nhập 500 triệu tài khoản Yahoo

Mỹ cáo buộc 2 điệp viên Nga và 2 hacker xâm nhập 500 triệu tài khoản Yahoo

Một nhóm hacker Nga do nhà nước bảo trợ đã bị cáo buộc tấn công Yahoo vào năm 2014, gây ảnh hưởng hơn 500 triệu tài khoản người dùng. 

Mỹ cáo buộc 2 điệp viên Nga và 2 hacker xâm nhập 500 triệu tài khoản Yahoo

Bộ tư pháp Hoa Kỳ đã buộc tội hai tình báo và hacker Nga đã liên quan đến vụ tấn công Yahoo. Theo các công tố viên, ít nhất 30 triệu tài khoản đã được dùng như một phần của chiến dịch spam để truy cập vào nội dung email của hàng ngàn người, bao gồm các nhà báo, cán bộ chính phủ và nhân viên công ty công nghệ.

Mỹ cáo buộc 2 điệp viên Nga và 2 hacker xâm nhập 500 triệu tài khoản Yahoo

Bốn bị cáo này bao gồm 2 nhân viên của Cục An ninh Liên bang Nga (FSB) và hai hacker, được xác định cụ thể là:

  • Dmitry Aleksandrovich Dokuchaev, 33 tuổi – nhân viên tại Trung tâm Bảo mật Thông tin của FSB tại thời điểm xảy ra vụ tấn công, và hiện tại đang ở Nga.
  • Igor Anatolyevich Sushchin, 43 tuổi – nhân viên của FSB, cấp trên của Dokuchaev ở FSB, và đang ở Nga.
  • Alexsey Alexseyevich Belan, hay còn gọi là Magg, công dân Nga và nằm trong danh sách truy nã đặc biệt của FBI và đã bị kết án 2 năm giữa năm 2012 và 2013 bởi các thẩm phán liên bang của Hoa Kỳ về tội lừa đảo và gian lận.
  • Karim Baratov, hay còn gọi là “Kay”, “Karim Taloverov” và “Karim Akehmet Tokbergenov”, 22 tuổi, quốc tịch Kazakh và là hiện đang cư trú Canada.

Trong bản cáo trạng gồm 38 trang được công bố hôm thứ tư, các công tố viên cho biết hai tình báo Nga đã làm việc với hai hacker khác để xâm nhập Yahoo lần đầu tiên vào năm 2014.

Mỹ cáo buộc 2 điệp viên Nga và 2 hacker xâm nhập 500 triệu tài khoản Yahoo

Belan, người đứng đầu danh sách tội phạm công nghệ của FBI đã sử dụng giao thức truyền tệp (FTP) để tải xuống cơ sở dữ liệu Yahoo chứa tên người dùng, tài khoản e-mail khôi phục, số điện thoại cũng như một số thông tin cần thiết để tạo thủ công, trình duyệt web xác thực tài khoản “cookies” của hơn 500 triệu tài khoản Yahoo.

Nhóm hacker sau đó đã sử dụng thông tin đánh cắp để truy cập trái phép vào tài khoản Yahoo, Google và các nhà cung cấp dịch vụ webmail khác, bao gồm cả các quan chức của Nga và Mỹ, các nhà báo Nga, nhân viên dịch vụ tài chính và các doanh nghiệp khác.

Các tội bị cáo buộc gồm:

  • Xâm nhập để lừa đảo và lạm dụng máy tính
  • Tham mưu để tham gia và trộm cắp bí mật thương mại
  • Tham gia vào hoạt động gián điệp kinh tế
  • Đánh cắp thông tin cá nhân
  • Xâm nhập để lừa đảo và lạm dụng máy tính
  • Lan truyền mã độc
  • Truy cập trái phép vào máy tính để thu thập thông tin vì lợi ích thương mại và lợi ích tài chính cá nhân

Baratov đã bị cảnh sát Toronto, Nhật Bản bắt vào hôm thứ ba, trong khi Belan và hai nhân viên FSB đang ở Nga. Hoa Kỳ đã yêu cầu phải bàn giao phạm nhân, nhưng Hoa Kỳ không có hiệp định dẫn độ với Nga.

Trong khi đó, trợ lý Bộ trưởng Mary McCord cho biết không có sự liên quan giữa bản cáo trạng hôm thứ Tư và cuộc điều tra về hacker của Ủy ban Quốc gia Dân chủ (DNC) vào năm ngoái.

Thông tin về vụ bắt giữ này đã xảy ra vài tuần sau khi Verizon Communications Inc. đồng ý giảm giá 350 triệu USD thương vụ mua lại Yahoo. Thỏa thuận này trước đây đã hoàn tất ở mức giá 4,8 tỷ USD, hiện nay trị giá khoảng 4,48 tỷ USD bằng tiền mặt và dự kiến sẽ kết thúc vào quý hai.

Theo: thehackernews

Facebook nợ báo chí điều gì?

Facebook nợ báo chí điều gì?
Ảnh: GI

Mark Zuckerberg đã từng nhắc tới vai trò quan trọng của báo giới trong việc xây dựng nên một xã hội hiện đại. Nhưng chính nhà sáng lập nên mạng xã hội lớn nhất thế giới này quên mất là Facebook và các nền tảng mạng xã hội đã và đang làm suy yếu nền báo chí truyền thống. 

Facebook nợ báo chí điều gì?
Ảnh: GI

Xin giới thiệu bài viết trên tờ The New York Times.

Những hãng thông tấn địa phương đang dần bị vắt kiệt vì những mô hình truyền thống đã không còn phù hợp trong thời buổi hiện đại ngày nay. Điều đó cũng khá dễ hiểu khi các hình thức quảng cáo khác, trên các trang web, trên Youtube đang được ưa chuộng hơn rất nhiều so với hình thức quảng cáo trên báo in.

Phần lớn số tiền này chẳng thể tới được tay của những người làm báo nữa. Thay vào đó, số tiền ấy chảy vào túi của Facebook và Google.

Theo một con số thống kê thì trong 59 tỷ USD dành cho quảng cáo kỹ thuật số (digital) trong năm 2015 trên các trang mạng, 36 tỷ USD chảy vào túi của hai công ty này. Thêm vào đó, thị phần của họ đang ngày một lớn mạnh hơn. Và đương nhiên khi mà Facebook và Google tiếp tục phát triển thì “những người khác” lại đang bị co hẹp.

Vì khả năng tương tác và tìm kiếm đối tượng khách hàng siêu việt của mình, việc hai công ty này phát triển nhanh chóng để chiếm lĩnh thị trường cũng là điều khá dễ hiểu. Khoảng 25% doanh thu quảng cáo của Facebook tới từ các doanh nghiệp đia phương, theo thông tin từ báo cáo mà BorrellAssociates cung cấp.

Để đính chính thì Facebook và Google không giống như ngành công nghiệp thuốc lá, họ không khiến chúng ta nghiện để phải tiếp tục chi thêm tiền. Thay vào đó, họ lại giúp các doanh nghiệp địa phương tiết kiệm được cả đống tiền vì những chương trình mà họ đưa ra là quá hấp dẫn. Tất nhiên, thay vào đó, doanh số quảng cáo của các tờ báo truyền thống sẽ đi xuống.

Chúng ta cũng có thể nói thêm một chút về hai ông lớn khác của ngành: Verizon và Apple. Nếu Verizon, công ty sở hữu AOL thành công mua lại Yahoo, họ sẽ có 10% thị phần trong ngành quảng cáo số.

Ảnh hưởng của Apple lại có hơi hướng gián tiếp hơn. Với việc quảng bá cho công nghệ chặn quảng cáo, Apple vô hình chung đã làm giảm một phần nguồn thu từ quảng cáo điện tử tới từ các trang báo. Việc smartphone và mạng xã hội đang trở thành trào lưu được ưa chuộng khiến cho nhiều người không còn hướng tới các tờ báo để cập nhật tin tức nữa.

Chúng ta không nói rằng cuộc “cách mạng số” là một việc làm tồi tệ. Ngược lại, phản ứng có phần chậm chạp, đôi lúc thiếu sự sáng tạo của các tờ báo mới là thứ cản trở. Dẫu vậy, ảnh hưởng của nó tới nền báo chí truyền thống vẫn là không thể chối bỏ.

Và trong vòng 10 năm trở lại đây, có rất ít những tổ chức đứng lên quyên góp, vận động quỹ dành cho báo chí.

Không phải những hoạt động như vậy không có, nhưng con số mà nó mang lại là quá bé nhỏ. Các tổ chức đã tài trợ 13,4 triệu USD cho báo chí điều tra trong năm 2015 và 2016, theo như số liệu thống kê từ Media Impact Funders. Ngược lại, doanh thu của báo chí Mỹ lại thấp hơn những năm 80 tới 1.6 tỷ USD.

Điều bất ngờ hơn là tên của 4 “ông lớn cầm chịch” ngành digital marketing lại không xuất hiện trong danh sách 89 nhà tài trợ trong vòng hai năm qua.

Nhìn một cách tổng quát hơn thì từ năm 2009 tới năm 2016, 145 triệu USD đã được tài trợ cho báo chí điều tra bởi 374 tổ chức, và chỉ có duy nhất 1 lần có tên 1 trong 4 ông lớn đó, với khoản tiền chỉ vỏn vẹn 10,000USD cho Bronx News Network.

Không phải vì họ không có tiền, hay làm ăn thua lỗ gì cả. Trong năm 2016 vừa rồi, khoản lời từ 4 công ty lớn này gộp lại lên tới mức 88 tỷ USD. Còn với báo chí, ba tập đoàn lớn nhất trong ngành truyền thông Mỹ là The New York Times, Gannett và McClatchy chỉ thu về được 41 triệu USD, chưa tới 0,1% doanh số của 4 ông lớn kia.

Thay vì quyên góp tiền mặt, các công ty này lại có những dự án khác để hỗ trợ cho báo chí: Google đã thiết lập nên một dự án mang tên “Google News Labs”, cung cấp những công nghệ, những dữ liệu và lập trình cần thiết để giúp đỡ các nhà báo. Chiến dịch “Digital News Initiative” của họ cũng đã chi hơn 40 triệu USD cho truyền thông châu Âu.

Facebook mới đây cũng công bố dự án “Facebook Journalism”, cam kết hoạt động cùng với các hãng truyền thông về việc cải thiện thông tin đăng tải trên Facebook, hứa mang lại một môi trường phát triển mới dành cho các hãng thông tấn địa phương. Đây được coi là một trong những bước tiến lớn của các tập đoàn này trong việc khẳng định vai trò thiết yếu của mình để vực dậy nền báo chí thế giới.

Nhưng, điều mà giới truyền thông cần hơn cả không phải công nghệ hay ứng dụng gì, mà lại chính là tiền, thậm chí rất nhiều tiền để nuôi sống các nhà báo địa phương. Số tiền quyên góp mà các công ty lớn gửi tới báo chí là quá nhỏ bé so với tầm ảnh hưởng của cuộc “cách mạng số”.

Nếu như các công ty này chịu bỏ ra chỉ 1% lợi nhuận của họ trong vòng 5 năm tới, họ sẽ có thể thay đổi cả nền báo chí Mỹ trong cả một thập kỷ.

Con số bỏ ra chỉ là 4,4 tỷ USD nhưng đủ để nuôi sống các tờ báo địa phương. Họ có thể học tập Craig Newmark, người sáng lập nên Craiglist.

Vào thời kỳ web 1.0, khi các trang web mới ra đời đã làm giảm đáng kể doanh thu quảng cáo của các tờ báo, Newmark vẫn bảo vệ công cuộc phát triển của mình, nhưng vẫn nhận thức được rằng báo chí là một tổ chức thiết yếu để duy trì nền dân chủ. Chính vì lẽ đó, ông sẵn sàng cho đi hàng triệu USD tài sản cá nhân để tài trợ cho các dự án báo chí.

Dù rằng cuộc “cách mạng số” khiến cho việc đưa tin dễ dàng hơn rất nhiều, nhưng kèm theo đó là những ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn thu nhập thiết yếu để duy trì công việc đưa tin. Có lẽ đã tới thời điểm những người đi đầu trong cuộc cách mạng này, những người hưởng lợi nhiều nhất cũng phải chịu một phần trách nhiệm.

Theo Congluan

Microsoft ngừng hỗ trợ Windows Vista từ ngày 11/04

Microsoft chính thức ngừng hỗ trợ Windows Vista từ ngày 11/04

Microsoft sẽ chấm dứt hỗ trợ Windows Vista vào tháng tới, ngày 11/4, nếu bạn vẫn đang sử dụng Vista thì lời khuyên là hãy từ bỏ nó và nâng cấp lên hệ điều hành mới hơn.

Microsoft chính thức ngừng hỗ trợ Windows Vista từ ngày 11/04

Nếu bạn tiếp tục sử dụng Windows Vista sau ngày 11/4, bạn sẽ dễ bị tấn công và các mối đe dọa an ninh hơn, đặc biệt là khi Internet Explorer 9 không còn được hỗ trợ nữa.

Microsoft cũng cho biết thêm: “Chúng tôi đã cùng các nhà sản xuất phần mềm và phần cứng khác tiếp tục tối ưu hóa cho các phiên bản Windows gần đây, bạn có thể gặp phải nhiều ứng dụng và thiết bị không hoạt động với Windows Vista. Bộ phần mềm chống virus của Microsoft là Microsoft Security Essentials sẽ bị giới hạn nhiều thứ.”

Những con số mới nhất về thị phần hệ điều hành cho thấy Vista chỉ chiếm 0.78%, rất khiêm tốn. Nếu vẫn còn đang dùng, bạn có khoảng một tháng để được nhận cập nhật bảo mật.

Microsoft chính thức ngừng hỗ trợ Windows Vista từ ngày 11/04

Vista được ra mắt vào năm 2007, là bản nâng cấp tiếp theo của Windows XP. Và một thời gian dài sau đó, nó không đáp ứng được kỳ vọng cũng như có nhiều tính năng lỗi. Thay vì để thay thế Windows XP, hãng đã làm ngược lại và khuyến khích nhiều người sử dụng XP. Thị phần của Windows XP vẫn mạnh mẽ trong nhiều năm.

Điều này khiến Microsoft phải làm việc với Windows 7, 8 giúp mọi người thoát ra XP (hiện không còn được hỗ trợ). Mặc dù vậy nhưng Vista vẫn nhận được cập nhật trong nhiều năm qua.

Windows 10 là niềm tự hào của Microsoft hiện nay và không có gì đáng ngạc nhiên, công ty đang khuyến khích những người dùng Vista còn lại cập nhật lên hệ điều hành mới nhất này. Microsoft đang dần chấm dứt hỗ trợ các hệ điều hành cũ để hỗ trợ Windows 10 tốt hơn.

Theo: digitaltrends

Xiaomi chuẩn bị ra mắt vi xử lý cao cấp Surge S2 do TSMC gia công

Xiaomi chuẩn bị ra mắt vi xử lý cao cấp Surge S2 do TSMC gia công

Xiaomi đã không lãng phí thời gian khi chuẩn bị tung ra bộ vi xử lý cao cấp mới có tên Surge S2, xây dựng trên tiến trình 16nm và được TSMC gia công.

Xiaomi chuẩn bị ra mắt vi xử lý cao cấp Surge S2 do TSMC gia công

Tại buổi ra mắt Mi 5C, Xiaomi đã giới thiệu bộ vi xử lý đầu tiên của mình có tên Surge S1, được nghiên cứu và sản xuất trên tiến trình 28nm. Dù được mọi người dự đoán là bộ vi xử lý cao cấp nhưng Surge S1 lại ở ngưỡng tầm trung.

Tuy nhiên, Xiaomi đã không lãng phí thời gian khi chuẩn bị cho ra mắt bộ vi xử lý mới Surge S2. Được xây dựng trên tiến trình 16nm, Surge S2 hứa hẹn sẽ là thế hệ vi xử lý cao cấp thay vì chỉ ở tầm trung như thế hệ đầu tiên.

Vẫn còn rất ít thông tin về Surge S2, nhưng dự kiến nó sẽ được đưa vào sản xuất trong quý III. Tin đồn cho biết, những chiếc điện thoại Xiaomi sử dụng vi xử lý này sẽ được bán ra thị trường vào cuối năm nay.

Sở hữu 8 nhân và được giao cho TSMC gia công, Surge S2 được tích hợp nhiều công nghệ cao cấp hơn. Đối với bộ vi xử lý này, Xiaomi chưa thể theo kịp với công nghệ 10nm điển hình như Qualcomm Snapdragon 835 và Exynos 8895 là do sự hạn chế về khả năng đáp ứng tiến trình này.

Theo bước của Huawei (với chip Kirin), Xiaomi đang từng bước đứng vào hàng ngũ những công ty tự sản xuất chip xử lý cho riêng mình. Dù vậy, giá thành của công nghệ này không hề rẻ và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành của sản phẩm.

Theo Techviral

Qualcomm: Snapdragon nên được gọi là nền tảng thay vì chỉ là chip

Qualcomm: Snapdragon nên được gọi là nền tảng thay vì chỉ là chip

Trong một thông báo mới đây, Qualcomm muốn định nghĩa lại chip Snapdragon là một nền tảng chứ không chỉ dừng ở một thành phần linh kiện xử lý như trước.

Qualcomm: Snapdragon nên được gọi là nền tảng thay vì chỉ là chip

Thông báo viết:

“Trong thập kỷ qua, nền công nghiệp bán dẫn đã dùng thuật ngữ “vi xử lý” (processor) để chỉ thành phần điều khiển toàn bộ những thiết bị hiện đại. Nó là từ mà Qualcomm Technologies đã chấp nhận hàng năm với thương hiệu Snapdragon của chúng tôi, mà các bạn hay biết là vi xử lý Qualcomm Snapdragon. Nhưng từ này hiện đã là một đại diện không đầy đủ của những công nghệ thực sự, và giải pháp mà hàng chục ngàn nhà đổi mới mà Qualcomm đã nghiên cứu

Thực tế, Snapdragon còn hơn cả một thành phần đơn lẻ, một miếng silicon hay những gì mọi người đã diễn giải sai như CPU, nó là một tuyển tập các công nghệ bao gồm phần cứng, phần mềm và dịch vụ không thể hoàn toàn nắm bắt bằng một từ đơn giản là “bộ vi xử lý”. Đó là lý do tại sao Qualcomm Technologies đang định nghĩa lại thuật ngữ của chúng tôi bằng cách đề cập đến Snapdragon như một “nền tảng” thay vì một bộ xử lý.”

Rõ ràng điều này là đúng với những tiến bộ công nghệ của Qualcomm, hãng đang có Quick Charge, đầu đọc vân tay, WiFi, xử lý âm thanh đã được tích hợp vào nền tảng Snapdragon, biết thiết bị này không chỉ đơn giản là một bộ vi xử lý nữa.

Dù vậy thuật ngữ “nền tảng” (platform) phần nào đó sẽ gây ra sự bối rối đối với người dùng thông thường khi nó đang được chỉ đến như là hệ điều hành, ứng dụng mạng xã hội… Nhưng Qualcomm hy vọng mọi người sẽ bắt đầu năm rõ điều này trong dài hạn.

Qualcomm cũng đã bỏ thương hiệu Snapdragon khỏi các vi xử lý dòng 200 series, và chỉ đơn giản gọi đó là các chip Qualcomm Mobile. Hãng cho rằng với thương hiệu Qualcomm Mobile mới cho dòng chip cấp thấp sẽ giúp phân biệt các dòng chip tầm trung và giải pháp cao cấp từ dòng flagship thuộc nền tảng Snapdragon cho trải nghiệm di động.

 

Theo TNW