Chiếc điện thoại mới này được đặt tên là Nokia P1 và được trang bị bộ vi xử lý Snapdragon 835 với ống kính quang học Carl Zeiss.
HDM Global, công ty Phần Lan sở hữu thương hiệu điện thoại thông minh Nokia đang chuẩn bị cho ra mắt mẫu điện thoại mới của hãng tại MWC 2017 (Mobile World Congress) tại Barcelona. Nokia cũng đã gửi thư mời cho truyền thông tham dự một sự kiện của hãng vào ngày 27 tháng 2 tới. Trong khi đó, Nokia 6 đã được mở bán thành công ở thị trường Trung Quốc.
Mới đây, kênh YouTube với tên ConceptCreator đã đăng một video giới thiệu mẫu mã của chiếc điện thoại Nokia P1. Chiếc điện thoại mới này được đặt trong một khung kim loại với lớp kính ở mặt trước và sau, bên trái thân máy có khe cắm SIM và nút Home cảm ứng ở mặt trước.
Mặt sau máy được trang bị một camera có ống kính Carl Zeiss với 3 đèn flash nhỏ kế bên. Dòng chữ thương hiệu của Nokia đặt chạy dọc ở bên dưới ống kính, một thiết kế khá thân thuộc với người dùng Lumia của Microsoft. Mẫu thiết kế này trang bị cổng sạc USB Type-C, jack cắm tai nghe 3.5 và loa stereo kép được đặt ở phía dưới thân máy.
Video mẫu concept chiếc Nokia P1
Những thông tin bị rò rỉ trước đó đã tiết lộ thêm về thông số kỹ thuật của Nokia P1. Chiếc điện thoại mới này sẽ được trang bị bộ vi xử lý Snapdragon 835, nhưng có thể phải sau khi Samsung cho ra mắt Galaxy S8 thì Nokia P1 mới có thể hé lộ thông tin về ngày ra mắt.
Nokia P1 sẽ có một màn hình IGZO 5.3 inch có tần số 120Hz và được phủ kính cường lực Corning Gorilla Glass 5. Camera chính của máy có độ phân giải là 23.3MP, hỗ trợ quay phim ở độ phân giải 4K và pin dung lượng 4.000 mAh với công nghệ sạc nhanh Quick Charge 4 mới của Qualcomm.
Ngoài ra, Nokia P1 còn hỗ trợ cảm biến vân tay của Ultrasonic và đạt có chứng nhận IP55/IP57. Máy dự kiến sẽ chạy hệ điều hành Android 7.0 Nougat với bộ nhớ RAM 6GB, bộ nhớ trong 128 GB hoặc 256GB.
Trước đó, Nokia đã quay trở lại thị trường điện thoại thông minh với chiếc điện thoại Nokia 6 được ra mắt ở Trung Quốc. Trong đợt mở bán online đầu tiên thì toàn bộ điện thoại Nokia 6 đã hết sạch trong vòng 60 giây. Xấp xỉ 1,4 triệu chiếc điện thoại đã được đặt hàng trước khi đợt mở bán thứ 2 mở ra trên trang JD.com
SIM 11 số sẽ được giữ nguyên 7 chữ số cuối và thay bằng đầu số từ 03x đến 08x. (Ảnh: Zing)
Bộ Thông tin & Truyền thông cũng vừa thông qua quyết định sẽ chuyển các thuê bao di động 11 số tại Việt Nam sang dạng 10 số.
Nhằm triển khai thực hiện kế hoạch quy hoạch lại kho số viễn thông đã được ban hành năm 2014, Bộ Thông tin & Truyền thông vừa quyết định sẽ chuyển các thuê bao di động 11 số tại Việt Nam sang dạng 10 số.
Theo Cục Viễn thông, việc đổi mã vùng điện thoại cố định chính thức bắt đầu từ ngày 11/2/2017. Kế hoạch chuyển đổi mã vùng này sẽ kết thúc vào ngày 31/8/2017.
Bắt đầu từ ngày 11/2/2017 sẽ thự hiện chuyển đổi SIM 11 số sang dạng 10 số.
Quy định chuyển đổi sim 11 số thành 10 số sẽ được thực hiện như sau:
Thuê bao di động 11 số sẽ được giữ nguyên 7 chữ số thuê bao (tính từ sau ra trước) và đổi mã của các mạng Mobifone, Vinaphone, Viettel, Vietnamobile, Gtel bằng đầu số từ 03x đến 08x.
Mã mạng từ 03x đến 08x được lấy từ các mã còn lại của mã vùng cố định sau khi chuyển đổi. Bộ TT&TT sẽ chuyển đổi các thuê bao di động 11 số hiện nay của các mạng di động Viettel, MobiFone, VinaPhone, Vietnamobile, Gtel gồm các đầu số 016xxxxxxxx, 012xxxxxxxx, 019xxxxxxxx, 018xxxxxxxx sang sử dụng đầu số của dịch vụ cố định này.
Sim 10 số mới là sim có đầu số như sau: 08xxxxxxxx, 03xxxxxxxx, 05xxxxxxxx. 04xxxxxxxx, 07xxxxxxxx.
Các nhà mạng phải thông báo trước 60 ngày đến các thuê bao trên phương tiện thông tin đại chúng và cho phép gọi đồng thời cách cũ và cách mới trong vòng 60 ngày.
Các thuê bao đang sử dụng sim 10 số sẽ không bị ảnh hưởng.
SIM 11 số sẽ được giữ nguyên 7 chữ số cuối và thay bằng đầu số từ 03x đến 08x. (Ảnh: Zing)
Sau 6 tháng ra mắt, Android 7 Nougat hiện chiếm 1,2% số thiết bị sử dụng nền tảng hệ điều hành của Google.
Theo cập nhật mới nhất từ Google, sự tăng trưởng của những thiết bị sử dụng nền tảng Android 7, cả phiên bản Android 7.0 và Android 7.1 đều vẫn ở mức không đáng kể. Cụ thể, theo số liệu thống kê trong tháng 2/2017 của Google, Android 7.0 chỉ chiếm 0,9% lượng thiết bị Android và phiên bản Android 7.1 có phần tệ hơn khi dừng lại ở mức 0,3%.
Nếu so với số liệu thống kê của tháng 1, giá trị tăng trưởng của thiết bị chạy nền tảng Android 7 và Android 7.1 thực sự không có gì đáng chú ý. Như vậy, 6 tháng sau khi chính thức ra mắt, cả Android 7.0 và Android 7.1 chỉ chiếm 1,2% thiết bị Android đang hoạt động.
Cũng trong khoảng thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 2/2017, mức tăng trưởng của các thiết bị Android Marshmallow vượt hơn 1%. Theo giới quan sát, số liệu tăng trưởng thiết bị nền tảng Android Marshmallow nhìn chung cũng ở trong mức dự đoán vì một số nhà sản xuất vẫn tung ra những sản phẩm mới sử dụng nền tảng Android Marshmallow.
Số liệu thống kê của Google cũng cho thấy Android 5.0 và Android 5.1 Lollipop hiện vẫn chiếm 32,9% lượng thiết bị Android đang hoạt động. Riêng phiên bản 4.4 KitKat với tuổi đời đã khá già dặn vẫn hiện hữu và chiếm 22% lượng thiết bị Android hiện tại.
Mức tăng trưởng các phiên bản Android theo số liệu thống kê của Google.
Trước kết quả mà Google chia sẻ, có thể nhận thấy một bức tranh khá ảm đạm về sự phân mảnh của nền tảng hệ điều hành Android. Theo giới quan sát, điều này không chỉ gây thêm sự phức tạp cho các nhà phát triển mà thậm chí còn là dấu hiệu cho thấy một lượng lớn thiết bị Android sẽ không bao giờ nhận được bản cập nhật hệ điều hành mới nhất và lẽ đương nhiên là cả những bản vá lỗi bảo mật.
Khởi điểm và quá trình dẫn đến thành công của Snapchat nghe có vẻ rất giống những gì diễn ra với Facebook trong bộ phim “The Social Network”.
Đồng sáng lập Snapchat, Evan Spiegel và Bobby Murphy
Chỉ khác là trong trường hợp của Snapchat, nhân vật chính không phải anh em sinh đôi Winklevoss kiện Mark Zuckerberg chuyện ăn cắp ý tưởng mạng xã hội (và nhận được 65 triệu USD tiền đền bù từ ông chủ Facebook) mà là nhà đồng sáng lập có tên Reggie Brown.
Sau khi khởi kiện hai nhà đồng sáng lập Evan Spiegel và Bobby Murphy chuyện bị đá khỏi công ty mà không được chia cổ phần, Reggie Brown cuối cùng cũng nhận được 157.5 triệu USD tiền dàn xếp để… biến mất luôn.
Snapchat đã vượt qua chặng khởi đầu đầy sóng gió ra sao để đến được với cột mốc IPO hàng tỷ USD sắp tới đây? Hãy cùng xem lại lịch sử của startup gây sốt này qua bài viết dưới đây.
Cũng giống như nhiều startup nổi tiếng khác tại Mỹ, khởi thủy của Snapchat là trường ĐH Stanford danh tiếng, nơi các nhà đồng sáng lập cùng theo học. Khi đó, Evan Spiegel (sinh năm 1990) và Reggie Brown (sinh năm 1990) đã kết bạn với nhau và quyết định gia nhập hội nam sinh Kappa Sigma – nơi họ gặp nhà đồng sáng lập thứ ba là Bobby Murphy, dù cũng phải mất vài năm sau họ mới biến ý tưởng ảnh tự hủy thành một mô hình kinh doanh thực sự.
Trường Đại học Stanford
Snapchat cũng không phải startup đầu tiên của Spiegel. Trước khi đến với Snapchat, Murphy từng thuê Spiegel (kém 1 tuổi) về làm cùng ý tưởng về một mạng xã hội khác. Năm 2010, họ cùng nhau sáng lập Future Freshman, một site hỗ trợ quá trình nộp đơn vào đại học cho học sinh cấp ba. Tuy website chưa bao giờ được nhiều người biết tới nhưng nó đã truyền cho Spiegel không ít đam mê kinh doanh.
Trang giới thiệu công ty Future Freshman
Cho tới tận khi Spiegel học năm ba thì ý tưởng về Snapchat mới thành hình. Tháng 4 năm 2011, Brown có nói với Spiegel trong lúc chat “nhạy cảm” với các cô bạn gái rằng: “Ước gì những bức ảnh tôi đang gửi cho cô ấy lúc này đây sẽ biến mất.” Spiegel ngay lập tức hứng thú với ý tưởng và cho rằng nó đáng giá cả triệu đô. 5 năm sau, ý tưởng quái dị ngày nào đã mang về hàng tỷ USD.
Reggie Brown
Mùa hè năm 2011, Snapchat ra đời, nhưng ban đầu chưa mang tên Snapchat. Khi mới xuất hiện trên App Store, nó có tên là “Pictaboo”. Brown, Spiegel và Murphy đã dành cả mùa hè miệt mài với sản phẩm. Spiegel thậm chí còn vẽ cả icon Ghostface Chillah nay đã trở thành biểu tượng nổi tiếng của công ty.
Những hình ảnh đầu tiên về Pictaboo lưu trên Crunchbase
Thế nhưng Pictaboo chạy mãi vẫn chưa nổi lên được. Đến cuối hè, ứng dụng mới chỉ có 127 người dùng. Brown, Spiegel và Murphy lại nổ ra tranh cãi về quyền điều sở hữu công ty. Kết cục là Spiegel cúp máy và khóa sạch các tài khoản của Pictaboo không cho Brown vào. Tranh chấp này cuối cùng đã khiến họ mất hàng trăm triệu USD.
Từ trái sang: Reggie Brown, Bobby Murphy và Evan Spiegel
Đôi bạn Spiegel và Murphy đổi tên app thành Snapchat vào tháng 9 năm 2011 – ngày công ty chính thức ra đời. Lúc này, tuy chưa thực sự thành “hit” nhưng ứng dụng bắt đầu trở nên phổ biến hơn kể từ khi em họ Spiegel sử dụng với bạn bè ở trường trung học tại Los Angeles. Giới thanh thiếu niên khi đó đã tìm được một công cụ mới để gửi đi những tin nhắn tự hủy chỉ vài giây sau khi mở ra.
Ứng dụng Snapchat hồi mới đổi tên
Mùa thu năm 2012, Snapchat – từng chỉ có hơn 100 người dùng – đã đạt mốc 100.000 người dùng hàng ngày. Điều này cũng làm phát sinh chi phí server, Spiegel và Murphy phải trả gần 5000 USD mỗi tháng để duy trì ứng dụng và đang nhanh chóng cạn sạch tiền. Vị cứu tinh rót những đồng vốn đầu tiên cho Snapchat khi đó là Jeremy Liew của quỹ đầu tư Lightspeed Venture.
Jeremy Liew
Câu chuyện phát hiện ra Snapchat của Jeremy Liew cũng rất tình cờ khi thấy cô con gái tuổi teen sử dụng app trên điện thoại. Cô bé hào hứng cho biết tụi học sinh ở trường chỉ dùng đúng 3 app là Angry Birds, Instagram và Snapchat. Liew đã quen thuộc với 2 app đầu, nhưng Snapchat thì chưa. Sau một hồi dò dẫm qua các group Facebook của sinh viên Stanford, cuối cùng ông cũng tìm được tài khoản của Evan Spiegel để inbox đặt một cuộc hẹn.
Chính bức ảnh avatar Liew chụp cùng Tổng thống Obama đã thu hút Evan Spiegel
Tại cuộc gặp, Spiegel đã chia sẻ với Liew về ý tưởng đằng sau Snapchat: Trái với Facebook, nơi người ta thường chỉ cập nhật những lúc vui vẻ hay cảm thấy tự tin, Snapchat là nơi bạn giải bày những cảm xúc chân thành, gần gũi nhất, ngay cả khi đang buồn bực, đau khổ mà không lo bị dòm ngó hay phán xét vì tin nhắn sẽ tự hủy. Xét cho cùng thì tình bạn đích thực cũng được xây dựng trên những khoảnh khắc cả vui lẫn buồn mà con người ta chia sẻ với nhau. Snapchat khi đó chưa có nhiều lượt download nhưng những chỉ số tương tác thì trên cả tuyệt vời – người dùng sử dụng liên tục và dành rất nhiều thời gian trên ứng dụng. Liew đã bị thuyết phục và đầu tư vào Snapchat 485.000 USD – khoản vốn duy nhất cho vòng seed funding mà Spiegel huy động được trong năm 2012.
Ngay khi tiền về đến tài khoản, Spiegel đã quyết định bỏ học để dành toàn lực cho Snapchat khi chỉ còn 3 tín chỉ nữa là có thể tốt nghiệp. Team Snapchat (lúc này đã có thêm 2 developer mới) chuyển về căn nhà của bố Spiegel ở Los Angeles. Cuối năm 2012, Snapchat cán mốc 1 triệu người dùng hàng ngày.
Căn nhà mượn tạm của bố Spiegel
Đây cũng chính là lúc Facebook “dành tặng” Snapchat một quả tạ cỡ bự khi cho ra mắt ứng dụng đối thủ Poke vào tháng 12 năm 2012. Đầu tiên, Spiegel đã lo ngại Poke có thể nghiền nát Snapchat, nhưng cuối cùng đã lèo lái vượt Poke thành công. CEO Snapchat giờ đây lại coi Poke là “món quà Giáng Sinh tuyệt vời nhất” cho công ty.
Ứng dụng Poke của Facebook
Snapchat tiếp tục tăng trưởng và thu hút thêm nhiều sự chú ý của giới đầu tư, chỉ có điều sóng gió cũng bắt đầu nổi lên – y như trong phim “The Social Network”. Tháng 2/2013, Reggie Brown – chàng sinh viên với ý tưởng ảnh tự hủy năm nào thình lình xuất hiện để đâm đơn kiện Murphy, Spiegel và Snapchat vì đã “đá” anh ra mà không chia một chút cổ phần nào.
Tuy nhiên, phiên tòa tranh chấp đó vẫn không thể cản bước tăng trưởng của Snapchat. Mùa thu năm 2013, công ty giới thiệu tính năng Snapchat Stories – bước tiến đầu tiên giúp cập nhật của người dùng được lưu lại lâu hơn. Họ có thể đăng tải các snap (ảnh/video) của mình lên thành một câu chuyện tự hủy sau 24h, không phải chỉ sau vài giây như trước đây. Đây chính là vũ khí giúp Snapchat cạnh tranh với dòng thời gian của Facebook.
Tăng trưởng chóng mặt của Snapchat đã đánh bại hoàn toàn Facebook Poke và thu hút sự chú ý của Zuckerberg. CEO Facebook đã nỗ lực “gạ” Spiegel bán lại công ty với giá 3 tỷ USD. Thậm chí còn có tin đồn Google định hớt tay trên Facebook với giá 4 tỷ USD. Tuy nhiên, CEO Snapchat đã rất nổi tiếng với độ “cứng” của mình.
Đoạn email hẹn gặp thương lượng về vụ sáp nhập giữa Mark Zuckerberg và Evan Spiegel
Chỉ một tháng sau đó, Snapchat bị tấn công. Tên đăng nhập và số điện thoại của hơn 4 triệu tài khoản bị hack, dấy lên mối lo lắng trên diện rộng. Cho đến thời điểm này, Snapchat vẫn được coi là một ứng dụng “sexting” (viết ghép của sex texting – chat sex) nên không ít người dùng sợ bị lộ thêm nhiều dữ liệu khác.
Ban đầu, vị CEO trẻ không thấy cần phải đưa ra một lời xin lỗi bởi màn hack chỉ diễn ra rất nhanh. Vài tháng sau, công ty cũng dàn xếp xong với Ủy ban Thương mại Liên bang về chuyện cáo buộc lừa dối người dùng.
Tháng 5/2014, những email “nhếch nhác” của Spiegel hồi còn học ở Stanford bị post lên Valleywag, một trang tin phổ biến ở Thung lũng Silicon. Từng được khắc họa như “soái ca”, thậm chí được so sánh với Steve Jobs khi còn trẻ, những đoạn email táo bạo thời đại học với ngôn từ như F*ck B*tch…, hé lộ một Spiegel nổi loạn với nhiều tai tiếng về tiệc tùng, tình dục, kỳ thị hôn nhân đồng tính,…, một Spiegel rất khác với những gì công chúng được biết.
Thế nhưng những điều đó cũng vẫn không làm giảm sức nóng của Snapchat. Công ty tiếp tục đưa vào tính năng Live Stories thu thập những khoảnh khắc tức thời của hàng ngàn người dùng. Đến tháng 7/2014, các nhà đầu tư đã định giá công ty ở mức 10 tỷ USD. Chỉ trong vòng 3 năm ngắn ngủi, Snapchat đã leo từ ý tưởng 1 triệu USD thành một startup tầm cỡ tại Mỹ.
Tính năng Live Stories của Snapchat được lấy cảm hứng từ David Blaine, một họa sỹ vẽ minh họa tại tổng hành dinh của công ty. Sau khi xem bạn bè mình đăng tải những video được lồng ghép thú vị, David muốn được thấy tất cả chúng trên một màn hình thay vì chỉ xem từng cái một.
Công ty bắt đầu mở rộng ra ngoài căn nhà gỗ nhỏ ở bờ biển Venice (trụ sở chính sau khi Spiegel chuyển team ra khỏi căn nhà của bố). Snapchat cũng thuê về một đội ngũ quản lý cấp cao chống lưng cho vị CEO mới chỉ 24 tuổi. Giám đốc chiến lược của công ty là Imran Khan, nhân viên kỳ cựu của Goldman Sachs, trong khi giám đốc tài chính Drew Vollero thì chuyển từ Mattel sang Snapchat vào năm 2015. Tất nhiên, Spiegel vẫn là người chủ chốt hoạch định đường đi nước bước cho công ty.
Đầu năm 2015, Snapchat bắt đầu mở cửa cho các nội dung bên ngoài, chẳng hạn như từ các hãng tin CNN, Daily Mail, National Geographic… trong mục Discover. Ứng dụng không còn chỉ là nơi chia sẻ ảnh với bạn bè mà còn là nơi người dùng khám phá và chia sẻ tức thời các bài báo xuất bản format dọc từ mục Discover cho bạn bè.
Snapchat luôn tìm ra cách kiếm được doanh thu để xoa dịu các nhà đầu tư. Công ty khởi đầu bằng việc thêm quảng cáo cho cho các bộ lọc theo địa điểm (geofilter). Ví dụ nếu đang ở một cửa hàng McDonald’s, bạn có thể chia sẻ ảnh mình ở đây với bộ lọc một đống… khoai tây chiên trên đầu.
Người dùng sử dụng Geofilter
Geofilter chỉ mới được đưa vào kể từ khi Snapchat mua lại startup Looksery nhưng đến cuối năm 2015 đã được hơn 100 triệu người sử dụng hàng ngày. Snapchat cũng âm thầm mua lại Bitmoji, ứng dụng thêm các sticker dạng cartoon từng gây bão trên Facebook. Thương vụ này mới chỉ chính thức được xác nhận sau khi siêu mẫu Miranda Kerr, bạn gái Spiegel đăng tải hình ảnh minh họa màn cầu hôn của vị CEO trẻ tuổi.
Bức ảnh Miranda Kerr chia sẻ trên Instagram
Ngay khi ứng dụng đang lên, Spiegel và Murphy đã bắt tay vào một dự án sản xuất kính râm. Tại sự kiện Sony Hack 2014, công ty tiết lộ đã mua lại hãng sản xuất kính mắt thông minh Vergence Labs để thành lập bộ phận bí mật là Snap Labs chuyên phát triển sản phẩm phần cứng.
Tháng 6 năm 2016, Spiegel bị giới paparazzi chụp được cảnh đang đeo một mẫu kính mát kỳ lạ trong kỳ nghỉ với Miranda Kerr.
Ngay sau khi ra mắt chiếc kính râm camera Spetacles có thể quay mọi khoảnh khắc người dùng nhìn thấy và chia sẻ lên Snapchat, công ty đã đổi tên thành Snap Inc. trong sự ngỡ ngàng của các nhân viên. Sự thay đổi này cũng thể hiện rõ rằng Snap nay không chỉ còn là một công ty ứng dụng trước đây nữa.
Chiếc kính râm thời thượng Spectacles
Cái tên mới cũng cho thấy Snap đã sẵn sàng lên sàn: “Bạn có thể tìm Snapchat hay Spectacles để vui đùa, còn Snap Inc. thì cứ để dân phố Wall lo :)” – công ty đăng tải trên một bài blog.
Tháng 2 năm 2017, với 158 triệu người dùng hàng ngày, Snap cuối cùng cũng nộp đơn xin lên sàn. Trong hồ sơ gửi Ủy ban Chứng khoán, chúng ta cũng biết được rằng Snap đã trả cho Reggie Brown khoảng 158 triệu USD để biến mất – quả là một con số rất sát với lượng người dùng.
Số tiền đền bù có vẻ lớn, nhưng thực tế là Snap đang chuẩn bị cho màn IPO lên đến 3 tỷ USD. Trong hồ sơ của mình, công ty cho biết: “Khi chúng tôi mới bắt đầu, nhiều người chẳng hiểu Snapchat là cái gì và cho rằng nó chỉ dành cho chat sex, ngay cả khi chúng tôi hiểu rõ rằng nó được người ta dùng để chia sẻ nhiều điều hơn thế.” Và chặng đường từ một ứng dụng camera đến khi trở thành một công ty tỷ USD đã minh chứng rõ ràng cho điều đó.
Khoảng 11% người dùng Internet toàn cầu sử dụng phần mềm để ngăn chặn quảng cáo, tương đương 600 triệu thiết bị khác nhau, từ điện thoại thông minh, máy tính bảng, đến máy tính để bàn.
Con số này đại diện cho mức tăng 30% mỗi năm theo một báo cáo mới được công bố bởi PageFair. PageFair là một công ty startup đang tìm cách để giúp các công ty khác bù đắp doanh thu quảng cáo bị mất.
Mất doanh thu có thể làm cho các công ty khó khăn hơn. Các nhà xuất bản trên web hiện nay đang mất hàng chục tỷ USD doanh thu quảng cáo mỗi năm, khiến các công ty phải sa thải nhân viên, đóng cửa và buộc phải tạo ra các paywall gây nhiều phiền phức. Paywall là một hệ thống kiểm soát chỉ cho phép người dùng đọc dưới 10 bài báo miễn phí mỗi tháng.
Tuy nhiên, giới quan sát nói rằng các công cụ kỹ thuật số chặn quảng cáo như vậy đã trở thành một xu hướng chủ đạo, đặc biệt ở các khu vực đang phát triển. Như tại Indonesia, con số này chiếm khoảng 2/3 người dùng Internet.
“Đã có sự gia tăng nhanh người dùng trong việc dùng các phần mềm chặn quảng cáo di động tại những nước này mà không có ai dự đoán được,” Sean Blanchfield, giám đốc điều hành của PageFair cho biết. Mức gia tăng sử dụng các phần mềm này đã không được chú ý bởi ngành công nghiệp quảng cáo.
Trong tháng 8/2016, Facebook, một trong những công ty có doanh thu quảng cáo trực tuyến lớn nhất thế giới, đã cố gắng ngăn chặn người dùng sử dụng các phần mềm đó trên mạng xã hội của mình. Những nỗ lực của công ty đã dẫn đến một cuộc chạy đua giữa công ty và các phần mềm quảng cáo, hai bên đã không ngừng nâng cấp thuật toán để cố gắng vượt qua nhau.
“Các phần mềm chặn quảng cáo đã gây nên tổn thất lớn đến toàn bộ hệ thống quảng cáo,” Paul Verna, một nhà phân tích tại công ty nghiên cứu eMarketer, cho biết “Cách tốt nhất cho ngành công nghiệp để giải quyết vấn đề này là cung cấp trải nghiệm quảng cáo hấp dẫn đủ để người tiêu dùng không muốn chặn.”
Phần mềm chặn quảng cáo chủ yếu được sử dụng bởi những người muốn tiết kiệm dữ liệu trên các gói cước tốn kém bằng cách loại bỏ các video quảng cáo, cũng như việc ngốn quá nhiều dữ liệu từ các quảng cáo trên thiết bị di động. Hơn 90% các phần mềm chặn quảng cáo trên thiết bị di động toàn cầu đều được diễn ra ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, theo báo cáo PageFair.
Năm ngoái, phần mềm như vậy được sử dụng trên 380 triệu điện thoại thông minh và máy tính bảng trên toàn cầu, mỗi năm tăng 39%. Phần còn lại sử dụng trên các máy tính truyền thống, tăng 17% trong năm ngoái, lên đến 236 triệu thiết bị, chủ yếu ở Mỹ và châu Âu. Lí do chính khiến người dùng trong những khu vực này sử dụng phần mềm bởi họ không muốn bị dính phải malware dưới dạng các quảng cáo trực tuyến.
Đây là nội dung từ báo cáo An ninh mạng, phiên bản 21 (SIR Volume 21) vừa được Microsoft Châu Á công bố vào ngày hôm nay.
Báo cáo an ninh mạng của Microsoft (The Microsoft Security Intelligence Report) được phát hành 2 lần mỗi năm, cung cấp tầm nhìn thấu suốt về ngữ cảnh mã độc nhằm giúp các tổ chức hiểu rõ hơn về dữ liệu mang tính xu hướng trong các lỗ hổng của ngành công nghiệp, việc khai thác, mã độc và các cuộc tấn công dựa trên web. Báo cáo chỉ ra rằng Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt thị trường mới nổi là những nước gặp nguy cơ cao nhất về các mối đe dọa an ninh mạng. Trong báo cáo có ba nước thuộc khu vực nằm trong tốp năm toàn cầu bị mã độc tấn công.
Việt Nam đứng thứ 2 về tỷ lệ nhiễm mã độc
Báo cáo An ninh mạng phiên bản 21 (SIR Volume 21) đưa ra các nguy cơ nửa đầu năm 2016 dựa trên phân tích các thông tin hiểm họa của hơn 1 tỉ hệ thống khắp toàn cầu. Báo cáo cũng bao gồm các dữ liệu định hướng dài hạn và các hồ sơ hiểm họa chi tiết từ hơn 100 thị trường và khu vực.
Trong năm nước đứng đầu toàn cầu về nguy cơ nhiễm mã độc thì có hai thuộc khu vực Đông Nam Á là Việt Nam và Indonesia. Đây là hai nước có tỷ lệ nhiễm mã độc hơn 45% vào quý 2/2016, nhiều hơn gấp đôi so với mức trung bình cùng kỳ 21% của thế giới. Các nước bị nhiễm mã độc cao bao gồm các thị trường lớn đang phát triển và các nước Đông Nam Á như Mông Cổ, Pakistan, Nepal, Bangladesh, Campuchia, Philippines, Thái Lan và Ấn Độ với tỉ lệ hơn 30%.
Tuy nhiên, các nước phát triển cao về CNTT trong khu vực như Nhật Bản, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore thì lại có tỉ lệ nhiễm mã độc ở mức thấp hơn so với trung bình thế giới, và đây là điểm nhấn về tính đa dạng của an ninh mạng Châu Á Thái Bình Dương.
Những thị trường Châu Á Thái Bình Dương bị mã độc tấn công:
1. Mông Cổ 2. Việt Nam 3. Pakistan 4. Indonesia 5. Nepal & Bangladesh
6. Cambodia 7. Philippines 8. Thailand 9. India
10. Sri Lanka
11. Malaysia
12. Taiwan
13. China
14. Singapore
15. Hồng Kông
16. Hàn Quốc
17. Australia
18. New Zealand
19. Nhật Bản
Danh sách mã độc xuất hiện nhiều ở Châu Á Thái Bình Dương gồm:
Gamarue: sâu máy tính cung cấp điều khiển mã độc chiếm quyền trên máy tính của nạn nhân, ăn cắp thông tin và thay đổi các thiết lập bảo vệ trên máy.
Lodbak: một dạng trojan thường được cài trên các ổ di động bị điều khiển bởi Gamarue, và luôn cố cài đặt Gamarue khi ổ đĩa bị nhiễm kết nối với máy tính.
Dynamer:L một trojan có thể ăn cắp các thông tin cá nhân, tải thêm mã độc hoặc giúp các hacker truy cập vào máy tính.
Trong thực tế Gamarue là mã độc phổ cập nhất trong nửa đầu của năm 2016, đặc biệt là tại thị trường Nam và Đông Nam Á. Khoảng 25% máy tính tại Ấn độ và Indonesia bị Gamarue tấn công trong cùng kỳ.
Loại sâu này thường phân phối qua các kỹ thuật xã hội và các bộ kit khai thác hoặc có thể được gắn cùng các email dạng spam. Biến thể của Gamarue có thể cung cấp điều khiển độc hại lên máy tính bị nhiễm và theo quan sát, chúng ăn cắp thông tin từ các thiết bị rồi truyền tới các máy chủ chỉ huy và điều khiển (C & C) của kẻ tấn công. Gamarue cũng tạo ra những thay đổi và mã độc không mong muốn trên các thiết lập bảo mật của máy tính trạm.
Giải pháp từ Microsoft
Ông Keshav Dhakad, Giám đốc khu vực, Trung tâm Phòng chống Tội phạm mạng, Microsoft Châu Á chia sẻ: “Với sự gia tăng lượng mã độc kèm lượng tấn công ngày càng tinh vi, an ninh mạng đang trở thành nhiệm vụ ưu tiên quan trọng với hầu hết các tổ chức. Các tổ chức thường mất trung bình tới 200 ngày để biết rằng họ đã bị tấn công.
Điều các doanh nghiệp cần là tích hợp tốt các đầu tư và năng lực bao gồm “Bảo vệ – Phát hiện – Đáp ứng” với một chiến lược tập trung vào Định danh – Ứng dụng Apps, Dữ liệu, Cơ sở hạ tầng và Thiết bị. Ngoài ra, các Doanh nghiệp và tổ chức cũng nên xem xét việc sử dụng các dịch vụ dựa trên đám mây đáng tin cậy để được bảo vệ dữ liệu ở mức độ cao nhất, tận dụng chuyên môn, sự bảo đảm và các chứng nhận về an ninh và tính riêng tư ở cấp độ cao nhất, cấp độ doanh nghiệp của các nhà cung cấp điện toán đám mây”.
Các đội ngũ an ninh cũng cần bám sát các thay đổi trong bối cảnh mối đe dọa mạng xuất hiện bởi điện toán đám mây. Báo cáo mới nhất có chứa một phần thông tin đặc trưng mở rộng bao gồm một phần rất sâu về Bảo vệ cơ sở hạ tầng điện toán đám mây: phát hiện và giảm thiểu các mối đe dọa khi sử dụng Azure Security Center.
Phần này nêu chi tiết về các mối đe dọa mới mà tổ chức có thể gặp phải và phương thức dùng Azure Security Center để bảo vệ, phát hiện và ứng phó với các mối đe dọa an ninh chống lại nguồn tài nguyên dựa trên đám mây Azure. Một số trong những mối đe dọa đám mây mới là:
Tấn công kiểu Pivot back attacks (chốt sau): xuất hiện khi một kẻ tấn công tìm nguồn tài nguyên đám mây công cộng để có được thông tin và sử dụng để tấn công các tài nguyên tại cơ sở của chính nhà cung cấp dịch vụ.
Tấn công kiểu “Man in the Cloud” (trung chuyển): kẻ tấn công tạo ra một nạn nhân tiềm năng để cài mã độc với cơ chế điển hình, chẳng hạn như một email bao gồm liên kết đến một trang web độc hại. Sau đó chuyển thẻ lưu trữ đám mây đồng bộ của người dùng với kẻ tấn công, cho phép kẻ tấn công nhận được bản sao toàn bộ tập tin mà người sử dụng lưu trữ trên đám mây. Điều này biến kẻ tấn công trở thành một “người ở giữa” trong lưu trữ đám mây.
Tấn công kiểu Side-channel: kẻ tấn công cố đặt một máy ảo trên máy chủ vật lý dự kiến sẽ là nạn nhân. Nếu thành công, kẻ tấn công sẽ có thể thiết lập các cuộc tấn công tại chỗ lên nạn nhân. Những tấn công này có thể bao gồm các DDoS tại chỗ, tê liệt mạng, và cả tấn công trung chuyển, tất cả nhằm để trích xuất thông tin.
Resource ransom: nơi kẻ tấn công giữ làm con tin các tài nguyên đám mây thông qua đột nhập và kiểm soát tài khoản đám mây công cộng, sau đó yêu cầu nạn nhân phải trả một khoản tiền chuộc để giải phóng tài nguyên bị mã hóa hoặc bị hạn chế.
Các doanh nghiệp và tổ chức cần đảm bảo xây dựng được vị thế an ninh mạng mạnh mẽ để vững vàng ứng phó hiệu quả với hầu hết các tấn công mạng hoặc các lây nhiễm mã độc. Có 5 bước cần kiện toàn để chống lại các mối đe dọa an ninh mạng là:
Nền tảng vững chắc: Chỉ sử dụng phần mềm chính hãng, phiên bản mới và luôn cập nhật. Các tài nguyên CNTT phiên bản cũ, không được bảo vệ hoặc các bản không chính hãng sẽ làm gia tăng các cơ hội cho tấn công mạng. Ví dụ các phần mềm giả mạo thường xuyên được nhúng sẵn mã độc.
Tập trung làm sạch hệ thống mạng: nhân viên IT ít quản lý và tối ưu lại hệ thống mạng cũng như hành vi cẩu thả của người dùng, sử dụng mật khẩu yếu trong tổ chức đã làm gia tăng tổn thương cho hệ thống. Với việc ngày càng nhiều thiết bị cá nhân sử dụng tại nơi làm việc, thì cơ hội nhiễm mã độc càng gia tăng.
Có văn hóa về dữ liệu: Xây dựng một nền văn hóa phân tích dữ liệu lớn liên quan đến phân loại dữ liệu, chứng thực đa hệ, mã hóa, quản lý quyền, máy học để phân tích hành vi và đăng nhập nhằm phát hiện các bất thường hoặc đáng ngờ, từ đó có thể cung cấp manh mối tiềm năng nhằm ngăn chặn các vi phạm an ninh sắp xảy ra.
Đầu tư hệ sinh thái bảo vệ mạng mạnh mẽ và giám sát toàn thời gian: Đầu tư vào các giải pháp an ninh tin cậy cùng công nghệ bảo mật hiện đại để giám sát, phát hiện và loại trừ các hiểm họa mạng phổ biến và tiên tiến theo thời gian thực, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn để tiến hành các phân tích về hiểm họa tốt hơn.
Đánh giá thường xuyên, rà soát và kiểm định: Cố gắng thực thi an ninh toàn diện không chỉ ở khía cạnh công nghệ. Xây dựng chuỗi CNTT đáng tin cậy từ đám mây xuyên suốt phần mềm, phần cứng, IoT, thiết bị cá nhân và thường xuyên xem xét, đánh giá các đầu tư an ninh mạng và hiệu suất của phần mềm và triển khai phần cứng, bao gồm khách hàng và các đối tác cung ứng truy cập vào mạng.
Trong thông cáo phát đi ngày hôm nay, YouTube cho biết các nhà sáng tạo có hơn 10.000 người đăng ký đã chính thức được mở tính năng phát sóng trực tiếp trên di động (Mobile Live Streaming).
Theo đó, tính năng phát sóng trực tiếp trên di động đã được tích hợp trong ứng dụng YouTube. Người dùng chỉ cần nhấn nút quay sau khi mở ứng dụng là sẽ lên sóng trực tiếp. Những đoạn video trực tiếp sẽ có những tính năng tương tự như các video thông thường, người xem có thể tìm kiếm những video đó trên mạng xã hội video này thông qua gợi ý, đề xuất hay danh sách, và video cũng được bảo vệ khỏi những hành động sử dụng trái phép.
Vào năm 2011, YouTube đã phát triển tính năng phát video trực tiếp (video streaming). Đến năm 2016, người dùng được xem các video chủ đề về chính trị phát sóng trực tiếp có lượt theo dõi cao nhất từ trước đến nay, video các buổi tranh luận của ứng viên Tổng thống Mỹ 2016.
Cũng trong năm 2016, YouTube ra mắt tính năng phát video trực tiếp 360 độ với định dạng 4K, ở quy mô rộng và hoàn toàn miễn phí. Những nâng cấp của YouTube cũng dựa trên sự lắng nghe từ phản hồi của người dùng, từ đó cải tiến và điều chỉnh cho phù hợp, ví dụ như giảm tốc độ nhận chat trực tiếp lại (hóa ra nhận 2.000 tin nhắn mỗi giây là quá nhanh) và cải thiện chất lượng phát sóng trên nhiều thiết bị khác nhau…
Việc mở mobile live streaming rõ ràng là mạng xã hội video này muốn cạnh tranh với tính năng live streaming của ứng dụng Facebook và Facebook Messenger. Tuy vậy động thái hạn chế chỉ cho 10.000 tài khoản và ưu tiên đối với YouTube Creator phần nào cũng làm hạn chế sự trải nghiệm đối với người dùng thông thường. Hy vọng YouTube sẽ sớm mở cửa cho phép Live Stream ngày càng rộng rãi hơn trong thời gian tới.
Video giới thiệu tính năng Mobile Live Streaming trên YouTube
Với Delegated Recovery, Facebook có thể giúp khôi phục tài khoản của bạn thuộc các trang web khác, đây được xem là bước tiến mới dành cho người dùng sợ mất thiết bị khi sử dụng xác thực hai yếu tố (2FA).
2FA – Xác thực hai lớp là gì?
2FA (two-factor authentication) hay còn gọi là xác thực hai lớp, đa phần khi bạn đăng nhập vào tài khoản thì đó là xác thực 1 yếu tố. 2FA yêu cầu người dùng phải có 2 trong số 3 loại thông tin quan trọng nữa mới có thể truy cập vào tài khoản, thông thường là mã PIN sẽ được gửi qua SMS của số di động bạn đã đăng ký.
Phương thức xác thực 2 lớp thực ra được dùng phổ biến nhất là thẻ ATM vì bạn phải trải qua 2 bước: cho thẻ vào máy, nhập password để sử dụng.
Facebook Delegated Recovery được kỳ vọng thay thế 2FA
Theo đó, kỹ sư bảo mật của Facebook, Brad Hill đã đưa ra những lo ngại về phương thức bảo mật 2FA cũ với TechCrunch: “không cần quan tâm website thế nào, nhưng bạn có thể gặp rắc rối khi một người dùng bị mất mật khẩu hoặc mã xác thực. Tính năng Delegated Recovery có thể giúp bạn lấy lại tài khoản ngay cả khi bạn bị rớt điện thoại xuống nước.”
Tính năng bảo mật xác thực tài khoản là mối quan tâm của người dùng khi thiết bị gắn liền với tài khoản bị mất. Đối với những người không quen dùng 2FA, thường chỉ cần đăng nhập bằng mật khẩu. Phương thức 2FA đòi hỏi phải có mã xác thực thứ hai – thường là một tin nhắn chứa mã gửi đến điện thoại di động. Mất thiết bị có thể làm cho bạn không thể truy cập tài khoản vì bạn không thể nhận được các mã xác thực. Facebook đã có có cách giải quyết việc này với phương thức mới Delegated Recovery.
Với Delegated Recovery, Facebook cho phép người dùng thiết lập một mã phục hồi cho các trang web như GitHub và lưu trữ nó vào Facebook. Nếu bạn bị mất các thông tin đăng nhập tại GitHub, bạn chỉ cần đăng nhập vào Facebook và gửi mã token được lưu trữ để chứng minh danh tính của bạn và lấy lại quyền truy cập. Token sẽ được mã hóa, và Facebook không thể truy cập vào các thông tin được lưu trữ trên đó, mạng xã hội này cho biết cũng sẽ không chia sẻ nó với trang web của bên thứ ba (ngoài những trang bạn cho phép).
Hiện tại, tính năng này còn đang thử nghiệm hạn chế và chỉ phù hợp với GitHub. Đây là công cụ mã nguồn mở và đã được bổ sung vào chương trình tìm lỗi nhận thưởng của Facebook (bug bounty program) nên các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra và chỉ ra bất kỳ lỗ hổng bảo mật trước khi đưa nó vào các trang web và các nền tảng khác như là một sự thay thế phương thức 2FA truyền thống.
Với Delegated Recovery, Facebook đã loại bỏ phương pháp truyền thống, thay vì phụ thuộc vào email, mạgn xã hội này muốn người dùng cần đến nó với vai trò là một trung tâm xác nhận mã bảo mật của các trang web.
Hill giải thích thêm: “Có rất nhiều lý do khiến cho kỹ thuật khôi phục qua email không an toàn. Bảo mật email không phải là phương thức tối ưu nhất hiện tại. Đó là điểm thất bại duy nhất đối với tất cả mọi thứ bạn làm trực tuyến.” Động thái này cũng giúp cho người dùng sẽ gắn bó với Facebook nhiều hơn.
Những tin đồn về hồi kết của email đã được phóng đại lên rất nhiều, nhưng rõ ràng mong muốn kết thúc nó không phải là một điều dễ. Điều gì sẽ xảy ra khi bạn không thể truy cập vào tài khoản Facebook của mình? Chắc chắn email vẫn còn hữu dụng lâu dài trước khi nó bị khai tử.
Mặc dù nền tảng iOS được xem là rất chú trọng vào bảo mật cho người dùng, nhưng vẫn có những ứng dụng với số lượt tải lên đến hàng triệu lần đang được đánh giá là có vấn đề về bảo mật.
Mới đây, nhà nghiên cứu bảo mật Will Strafach đã công bố trên blog Medium của mình về việc phát hiện lỗ hổng trong khoảng 76 ứng dụng iPhone, trong đó có những ứng dụng đạt lượt tải về đến hơn 18 triệu lần, những ứng dụng này được đánh dấu là có thể khiến những dữ liệu cá nhân của người dùng rơi vào tay tin tặc.
Cái khó của nền tảng iOS đối với trường hợp này là Apple không thể tự mình khắc phục được lỗ hổng này. Thay vào đó, các nhà phát triển ứng dụng phải chỉnh sửa mã nguồn, nhưng thao tác này có thể xung đột với quy định của Apple cho việc truyền dữ liệu qua kết nối an toàn.
Trong số 76 ứng dụng trên, 33 trong số đó được xếp vào nguy cơ thấp, 24 ứng dụng ở mức trung bình và 19 ứng dụng có nguy cơ cao.
Nguy cơ cao nhất là rò rỉ thông tin đăng nhập tài khoản ngân hàng, nguy cơ trung bình là can thiệp vào thông tin đăng nhập của người dùng, còn cơ thấp là tiết lộ một phần dữ liệu nhạy cảm về thiết bị như địa chỉ e-mail và thông tin đăng nhập.
Strafach đã đăng tên 33 ứng dụng ông khám phá và xếp chúng mức nguy cơ thấp, mỗi ứng dụng đi kèm đầy đủ các dạng thông tin mà hacker có thể trộm được. Ví dụ như Snap Upload for Snapchat sẽ cho phép hacker lấy được tài khoản đăng nhập và mật khẩu của Snapchat, hay VivaVideo – ứng dụng chỉnh sửa video nổi tiếng – có thể làm lộ phiên bản hệ điều hành iOS, tên thiết bị di động và các truy vấn tìm kiếm…
Để an toàn cho người dùng, Strafach không chia sẻ những ứng dụng có nguy cơ trung bình và cao mà chỉ dừng ở mức cảnh báo chúng thuộc các lĩnh vực “ngân hàng, y khoa và các nhà phát triển ứng dụng với thông tin nhạy cảm”. Ông sẽ tiếp tục đăng tên các ứng dụng này trong vòng từ 60 đến 90 ngày tới.
Nếu lo lắng cho sự an toàn cá nhân của mình, bạn nên tránh kết nối iPhone của mình đến những mạng Wi-Fi thiếu an toàn, đặc biệt là khi cần thực hiện các giao dịch quan trọng. Những lúc cần thiết, người dùng hãy sử dụng kết nối 3G hoặc 4G để tránh hacker có thể nghe lén và thu thập thông tin.
Ngoài việc hiển thị địa chỉ website (URL), thanh Omnibox trên Google Chrome còn có thể tuỳ biến để có thể phát huy hiệu quả làm việc của bạn hơn.
Khi mới ra mắt, Google đã giới thiệu một thanh mà hãng gọi là Omnibox cho trình duyệt Google Chrome. Khác với Internet Explorer và Firefox trước đây vốn tách ô tìm kiếm và ô địa chỉ (URL) làm đôi, Omnibox cho thấy sự tiện dụng khi tất cả những gì bạn cần làm là gõ nội dung vào đó và bấm Enter.
Tuy tiện dụng vậy, nhưng nhiều lập trình viên cũng đã tuỳ biến để giúp Omnibox trên Chrome trở nên đa năng hơn nữa. Bài viết sẽ giới thiệu 6 tuỳ biến khác nhau cho Omnibox:
1. Thiết lập công cụ tìm kiếm tùy ý cho Omnibox
Bạn có thể làm điều đó này mà không cần cài thêm bất kỳ tiện tích mở rộng nào khác bằng cách nhấn chuột phải vào thanh URL và chọn Edit search engines để xuất hiện cửa sổ như hình bên dưới.
Thiết lập công cụ tìm kiếm mặc định nằm ở đầu trang, ví dụ mặc định luôn có là Google. Vì vậy nếu bạn nhập “Google.com” trong Omnibox và nhấn Tab, bạn có thể tìm nội dung bằng bộ máy tìm kiếm này.
Để đưa một bộ máy tìm kiếm mới vào, bạn cuộn xuống dưới cùng của cửa sổ search engine để thấy 3 khung trắng như hình dưới, tại đây bạn nhập tên, từ khoá cho hộp tìm kiếm và nhập chuỗi tìm kiếm lần lượt ở 3 ô rồi bấm Finish.
Để tìm một chuỗi từ cụ thể với công cụ tìm kiếm, bạn chỉ cần tạo một tìm kiếm bằng cách nhập từ khóa. Từ khóa đó sẽ nằm trong URL của công cụ tìm kiếm. Ví dụ, nếu bạn đã thiết lập tìm kiếm trong Gigablast với ‘Google Chrome’ là từ khóa, URL sẽ là https://www.gigablast.com/search?c=main&index=search&q=google+chrome. Sau đó, thay thế các từ khóa trong URL với %s. Vì vậy, các chuỗi tìm kiếm cho Gigablast là https://www.gigablast.com/search?c=main&index=search&q=%s.
2. Tìm bookmark với Omnibox
Có rất nhiều tiện ích mở rộng giúp dùng Omnibox tốt hơn. Để tìm kiếm bookmark của bạn với Omnibox, hãy thêm tiện ích Holmes cho trình duyệt. Khi đã thêm tiện ích mở rộng này vào Chrome, nhập ‘*'(không có dấu nháy) trong Omnibox và nhấn Tab (hoặc Space) để mở tìm kiếm bằng tiện ích Holmes trong thanh URL.
Sau đó gõ vào một từ khóa để tìm kiếm bookmark. Kết quả phù hợp sẽ xuất hiện như hình dưới. Bạn có thể nhấp vào một trong các bookmark được liệt kê để mở nó trong trình duyệt.
Hoặc bạn nhấn nút Holmes trên thanh công cụ. Nó sẽ mở hộp thoại như bên dưới, nơi bạn có thể nhập từ khóa. Lợi thế của Holmes UI là nó có thể liệt kê đến 10 kết quả thay vì 6 như khu vực Omnibox.
3. Tìm lại địa chỉ trong lịch sử duyệt web
Nếu bạn cần phải nhanh chóng tìm kiếm một website đã từng mở trong lịch sử duyệt web, hãy thực hiện với tiện ích History Search, nó sẽ cho phép bạn tìm kiếm lịch sử trên thanh địa chỉ. Khi đã thêm vào Google Chrome, để bắt đầu tìm kiếm bạn nhập ký tự ‘h’ (không có dấu nháy) trong Omnibox và nhấn Tab để kích hoạt tìm kiếm lịch sử.
Sau đó, bạn có thể gõ một từ khóa để tìm kiếm lịch sử của mình với và nhấn Enter, nó sẽ mở ra trang lịch sử Chrome như ảnh dưới đây.
Mặc định thì hiển thị lịch sử và trang đang mở cùng một tab. Để mở trang lịch sử trong một tab mới, bạn nhấn chuột phải vào nút Search History trên thanh công cụ và chọn Options > Search in a new check box.
4. Cài đặt thông báo bằng âm thanh trên Omnibox
Bạn có thể thêm âm thanh thông báo cho trình duyệt với tiện ích Omnibox Timer, nó cho phép bạn thiết lập các âm thanh thông báo với Omnibox.
Tiếp đến, bạn có thể thiết lập âm thanh thông báo bằng cách nhập ‘tm’ vào Ominbox và nhấn Space hoặc Tab. Bạn có thể lên lịch báo thức để nghỉ ngơi trong vài giờ hoặc vài phút. Để thiết lập báo thức, nhập giá trị tiếp theo ‘h’. Ví dụ, bạn có thể nhập vào ‘4h’ để lên lịch thông báo khi đủ 4h kể từ lúc thiết lập. Sau đó thêm lưu ý cho các báo thức và nhấn Enter.
Lưu ý là báo thức sau đó sẽ được đưa vào Omnibox Timer. Bạn có thể nhấp chuột phải vào nút Omnibox Timer trên thanh địa chỉ và chọn Option to open that page. Khi thông báo tắt, một lưu ý nhỏ sẽ hiện ra ở góc dưới bên phải của trình duyệt.
5. Chuyển đổi các tab trình duyệt
Có một vài tiện ích cho phép bạn chuyển đổi các tab trình duyệt với Omnibox. Một trong số đó là Switch to Tab. Nó cho phép người dùng sử dụng Chrome để tìm kiếm và chọn tab để mở với Omnibox.
Khi bạn đã thêm tiện ích này vào Chrome, gõ ‘sw’ trong Omnibox và nhấn phím Tab để kích hoạt Switch to Tab. Sau đó nhập vào từ khóa để tìm một trong những tab đang mở. Nó sẽ hiển thị các tab đang mở phù hợp nhất với từ khóa. Nhấn Enter để mở tab được liệt kê đầu tiên.
6. Tìm kiếm cụ thể trong một trang web
Omnibox Site Search là một tiện ích hữu dụng, bạn có thể tìm kiếm cụ thể trong trang web với Omnibox. Khi bạn thêm tiện ích này cho Chrome, mở một trang web để tìm kiếm trong trình duyệt, gõ ‘site’ vào hộp thoại văn bản Omnibox và nhấn Tab để kích hoạt như hình dưới đây.
Nhập từ khóa để tìm kiếm với site và nhấn Return. Nó sẽ mở công cụ tìm kiếm mặc định của trình duyệt với một danh sách các trang trên trang web phù hợp nhất với từ khóa được nhập. Ví dụ, nếu bạn đã tìm kiếm Amazon với Omnibox, nó sẽ cho bạn kết quả phù hợp như hình dưới đây.
7. Tìm kiếm các tiện ích Chrome
Bạn có thể tìm thấy các tiện ích Chrome hoặc các ứng dụng một cách nhanh chóng với tiện ích mở rộng Quick Search trên Web Store. Sau đó, gõ ‘ws’ trong Omnibox để tìm kiếm.
Tại đây bạn nhập vào một từ khóa để tìm kiếm tiện ích và ứng dụng. Nó sẽ hiển thị kết quả như hình dưới. Nhấp vào nút Extentions radio phía bên trái để lọc ra các ứng dụng.
Omnibox là một công cụ vô giá trên Google Chrome, giúp bạn mở rộng chức năng sử dụng của thanh địa chỉ. Ngoài ra, bạn còn có thể gửi email, sao chép địa chỉ IP và tìm kiếm Google Drive với Omnibox.