Blog Trang 1498

Máy ảnh trên smartphone: Khẩu độ lớn nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Có thật sự là khẩu độ lớn hơn thì chụp ảnh sẽ đẹp hơn?

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Trong vòng vài năm trở lại đây, các nhà sản xuất smartphone bắt đầu chú ý nhiều hơn đến camera của máy ảnh. Các smartphone gần đây thường được quảng cáo rằng có khẩu độ lớn, chụp thiếu sáng tốt. Quá ngon phải không nào. Thường thì nếu bạn không biết cảm biến máy dùng là loại nào, nhìn vào khẩu độ cũng có thể tạm đánh giá được độ ngon của camera của máy.

Giới thiệu một chút cho các bạn dễ hiểu. Giả sử mọi thông số của camera là đều bằng nhau. Máy ảnh nào có khẩu độ lớn hơn (chỉ số F nhỏ hơn) thì sẽ chụp thiếu sáng tốt hơn và xóa phông ngon hơn. Nhưng vấn đề với smartphone đó là các thông số còn lại chả mấy khi giống nhau, nhất là kích cỡ của cảm biến.

Nói đơn giản hơn nữa thì là như thế này. Giả sử ta có hai cái điện thoại y hệt nhau, trừ khẩu độ và kích cỡ cảm biến của máy ra. Nếu hai máy có cùng kích cỡ cảm biến, máy nào có khẩu lớn hơn sẽ chụp đẹp hơn. Tương tự, nếu hai máy có cùng khẩu độ, máy nào cảm biến lớn hơn sẽ cho ảnh chất lượng tốt hơn.

Thế nhưng nếu hai cái này mà đều khác nhau thì bắt đầu rắc rối rồi đó.

Các bạn coi thử hình dưới đây. Hình chụp bằng Pixel 2 với khẩu F1.8

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Còn hình dưới là chụp với khẩu F3.5 bằng một cái máy ảnh xịn, cảm biến micro-four thirds bự hơn điện thoại nhiều:

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Dù rằng khẩu chụp bằng con Pixel “lớn hơn” rất nhiều so với ảnh dưới, ta vẫn thấy hình dưới xóa phông tốt hơn đúng không nào? Tất nhiên là nếu chụp trong bóng tối nó cũng sẽ ngon hơn con Pixel nhiều nữa. Đó là do cái cảm biến micro four thirds đó lớn hơn do đó nhận được nhiều ánh sáng hơn.

Để dễ thấy hơn nữa, mời các bạn xem hình chụp với khẩu F1.8 bằng camera micro four thirds:

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Hình dưới đây là kích cỡ cảm biến của các loại camera phổ biến. Pixel 2 có cảm biến cỡ 1/2.55 inch, nhỏ hơn cái cảm biến nhỏ nhất trong hình. Bạn có thể thấy kích cỡ cảm biến có rất nhiều loại bự tổ chảng luôn.

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?

Mình đưa ra các thông tin này vì hiện tại các nhà sản xuất smartphone toàn đem khẩu độ ra để quảng cáo mà lờ tịt đi thông số về kích cỡ của cảm biến. Bạn thường sẽ phải tự đoán kích cỡ dựa trên các thông số khác như độ lớn điểm ảnh và độ rộng trường ảnh. Cơ mà làm như thế rất là phức tạp.

Lấy chiếc LG V30 làm ví dụ nhé.

V30 được quảng cáo là có khẩu F1.6, lớn nhất trên thị trường tại thời điểm nó ra mắt. Cái khẩu F1.6 này được quảng cáo rầm rộ. Người ta mặc định là đây là một nâng cấp rất đáng giá khi so với khẩu F1.6 của V20 và bắt đầu trông chờ vào các bức ảnh xóa phông mù tịt. Mọi thứ đều rất đẹp, cho đến khi thông số về kích cỡ cảm biến lộ ra. V30 dùng cảm biến cỡ 1/3 inch, nhỏ hơn 1/26 inch của V20. Thế nên khẩu to hơn giờ chả còn mấy ý nghĩa nữa.

Thế không có nghĩa là V30 chụp ảnh không hơn V20. Thực tế thì nó vẫn tốt hơn. Nhưng việc mập mờ về kích cỡ cảm biến mà tập trung vào khẩu độ như vậy là rất thiếu trung thực. Tệ hơn nữa, cảm biến nhỏ thì thường sẽ kéo theo dynamic range cũng sẽ kém. Dynamic range mà kém thì chả có khẩu nào kéo lên được cả.

Vậy nhưng không phải cứ cảm biến nhỏ là sẽ luôn rởm đâu. Pixel 2 cảm biến cũng nhỏ hơn người tiền nhiệm (1/2.3 inch với 1/2.55 inch). Tuy nhiên máy chụp ảnh vẫn ngon hơn vì có khẩu lớn hơn (F1.8 với F2.0). Ngoài ra máy còn được Google thêm công nghệ chống rung quang học khi chụp thiếu sáng nữa. Thế nên tổng thể lại thì ảnh vẫn tốt hơn do có nhiều nâng cấp hơn, và có vẻ như cảm biến cũng dùng công nghệ tốt hơn nữa.

Mình nhắc lại lần nữa vấn đề vẫn là quảng cáo chỉ tập trung vào khẩu độ mà bỏ qua kích cỡ cảm biến. Đôi lúc khẩu lớn có thể đỡ cho cảm biến nhỏ được khi chụp thiếu sáng. Nhưng điều này lại phụ thuộc xem nhà sản xuất thành thực đến đâu trong việc giới thiệu nâng cấp.

Thế thì sao các nhà sản xuất cứ dùng cảm biến nhỏ làm gì? Vì cho máy mỏng hơn, hiển nhiên.

Cảm biến lớn sẽ cần ống kính lớn và thường sẽ cần nhiều thứ khác cũng lớn hơn, như bộ chống rung quang học chẳng hạn.

Smartphone camera: Khẩu độ lớn, nhưng cảm biến nhỏ thì để làm gì?
Máy Essential PH-1 có hai cảm biến 1/3 inch nhưng chụp ảnh vẫn tệ hơn máy có một cảm biến lớn hơn nếu không được hậu kỳ tốt.

Đây cũng là lý do các nhà sản xuất sử dụng hai camera với một chụp ảnh đen trắng và một chụp ảnh màu. Những máy như thế này thường dùng cảm biến loại nhỏ nhất cho camera sau, đảm bảo việc mỏng nhẹ cho máy. (Ví dụ như Essential PH-1 sử dụng hai cái cảm biến 1/3 inch). Về lý thuyết, việc dùng cảm biến nhỏ sẽ được khắc phục bằng cách kết hợp hình ảnh từ cả 2 cái cảm biến. Ảnh thu được sẽ có độ chi tiết gấp đôi. Nhưng trên thực tế thì ảnh này ít khi tốt bằng ảnh chụp từ một cái cảm biến lớn hơn một cách thật sự.

Tất nhiên, khi nói đến nhiếp ảnh bằng smartphone, có rất nhiều thứ nữa phải bàn tới ngoài cảm biến và khẩu độ. Thí dụ như công nghệ làm cảm biến, chất lượng ống kính, phần mềm hậu kỳ, thuật toán dựng HDR, chống rung quang học và thậm chí là giả lập bokeh nữa.

Chốt lại, điều mình muốn nói là đừng đánh giá điện thoại chỉ dựa vào thông số. Kết quả mới là thứ thực tế nhất.

Còn đối với các nhà sản xuất điện thoại: Đừng quảng cáo khẩu lớn khi mà cảm biến lại bị làm nhỏ đi.

Theo TheNextWeb

General Electric đưa 330.000 nhân viên gắn bó với nền tảng iOS và Mac

General Electric đưa 330.000 nhân viên gắn bó với nền tảng iOS và Mac

Sự gắn bó giữa các hãng công nghệ lớn của Mỹ vào Microsoft đang có dấu hiệu rạn nứt khi đối thủ của họ là Apple đang giành lấy thị phần.

General Electric đưa 330.000 nhân viên gắn bó với nền tảng iOS và Mac

Cách đây không lâu, hãng Delta Airlines đã từ bỏ các sản phẩm của Microsoft và bắt đầu thay thế bằng iPad và iPhone. Thêm một đòn giáng mạnh vào Microsoft nữa, khi mới đây Apple và General Electric đã công bố mối quan hệ đối tác, theo đó những thiết bị Apple sẽ được đưa vào môi trường công việc. Tập đoàn công nghiệp khổng lồ của Mỹ sẽ làm việc với hãng có trụ sở tại Cupertino để tạo ra Predix, một nền tảng IoT riêng của GE chạy trên iPhone và iPad.

John Flannery, Chairman và CEO của GE cho biết:“Sự hợp tác giữa Apple và GE đang cung cấp cho các nhà phát triển những công cụ mạch mẽ để tự thực hiện các ứng dụng IoT công nghiệp riêng của họ. Khách hàng của chúng tôi ngày càng cần sự đắc lực của lực lượng lao động. Việc hợp tác chung này GE và Apple đang giúp cho các công ty công nghiệp sử dụng được các ứng dụng mạnh mẽ và giúp họ khai thác các dữ liệu dự báo và phân tích của Predix ngay trên iPhone hoặc iPad của họ.”

General Electric đưa 330.000 nhân viên gắn bó với nền tảng iOS và Mac

Predix SDK cho iOS sẽ được ra mắt tới các nhà phát triển vào ngày 26 tháng 10, cho họ khả năng tạo ra các ứng dụng chạy trên iOS để giúp cho người lao động có thể tận dụng đầy đủ các phân tích công nghiệp từ nền tảng của GE. Điều này sẽ cải thiện năng suất của lực lượng lao động bằng cách khiến cho họ hiểu biết sâu hơn về hiệu suất của thiết bị ngay trên iOS.

Chẳng hạn như một ứng dụng có thể thông báo cho người lao động về các vấn đề liên quan đến những thiết bị cần được bảo dưỡng và họ sẽ làm việc với thiết bị iPhone/iPad từ xa và thực hiện kiểm tra, sửa chữa ngay lập tức. Kết quả là nó có thể giảm thiểu chi phí cho công ty và giảm thời gian đến mức tối thiểu nhờ những đội ngũ từ xa có thể giải quyết mọi vấn đề mà không cần đến tận nơi.

General Electric đưa 330.000 nhân viên gắn bó với nền tảng iOS và Mac

General Electric sẽ không chỉ được chuẩn hóa trên các thiết bị di động như iPhone và iPad mà nó còn thúc đẩy một sự thay đổi từ máy tính chạy Windows sang Mac cho hơn 330.000 người.

Dịch từ: neowin

Con người có thể giao tiếp với máy móc bằng tiếng nói ảo trong tương lai

Con người có thể giao tiếp với máy móc bằng tiếng nói ảo trong tương lai

Theo nhà đồng sáng lập Android Rich Miner, trong vòng 20 năm tới, con người sẽ không còn dùng bàn phím vật lý để ra lệnh cho máy móc nữa. Thay vào đó, con người với máy móc sẽ giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Con người có thể giao tiếp với máy móc bằng tiếng nói ảo trong tương lai

Miner là người đã giúp hình thành nên kỉ nguyên của điện thoại thông minh hiện nay với Android, hệ điều hành cho điện thoại được Google mua lại vào 2005.

Rich Miner vừa qua đã phát biểu tại một hội nghị các nhà phát triển phần mềm tại Boston được điều hành bởi Facebook. Ông đã chia sẻ quan điểm của mình về sự tương tác của con người và máy móc trong tương lai. Theo Miner, con người có thể tương tác một cách tự nhiên với máy móc.

“Trong suốt 75 năm qua, chúng ta phải phụ thuộc với máy tính, làm việc với nó và chỉ ra lệnh trong khả năng của chúng”, Miner nói.

Miner và nhiều người tin rằng cách con người giao tiếp với máy móc đang trải qua một giai đoạn thay đổi. Miner lập luận rằng bàn phím có từ những năm 1800 và nó sẽ được loại bỏ trong vài thập kỷ tới. Màn hình cảm ứng đã khơi mào sự thay đổi này.

Elon Musk là một trong số nhiều người ủng hộ giao tiếp người – máy bằng cách cấy chip vào sọ con người. Cách khác là dùng các hệ thống khó bị xâm phạm với bộ tai nghe và cảm biến thực tế ảo. Miner dự đoán loại công nghệ này có thể được sử dụng bởi nhiều người trong tương lại.

Miner nói thêm:”Tôi đã có một cách nhìn nhân văn về tương tác giữa người với máy trong tương lai. Sẽ không còn các giắc cắm trực tiếp vì cách này làm cho việc tương tác kém phần riêng tư. Tôi thực sự yêu thích công nghệ thực tế ảo, nó mang lại nhiều thú vị khi chơi game cũng như nhiều việc hữu ích khác. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những vấn đề khi con người sử dụng kính thực tế ảo. Trong tương lai, con người có thể tương tác với máy tính nhiều hơn.”

Các cách thức chủ yếu mà ông dự kiến con người dùng ​​để liên lạc với máy móc sẽ là việc nhận dạng tiếng nói; “Mực kỹ thuật số” (bút stylus cho phép người dùng vẽ trên màn hình), khả năng làm cho máy tính hiểu cử chỉ và các biểu hiện trên khuôn mặt.

Những công nghệ này đã tồn tại, nhưng vẫn chưa được phổ biến. Miner tin chúng sẽ tiếp tục phát triển. Một vài ví dụ điển hình được đưa ra là việc giữ bàn tay để tạm dừng video, phần mềm số hóa, chuyển đổi mã ghi kí tự, phần mềm nhận diện biểu hiện thất vọng trên khuôn mặt con người sau đó đáp ứng theo nhu cầu người dùng.

Dịch từ Xconomy

Chẳng ai biết định nghĩa xe tự hành là sao, và nó đang là một vấn đề lớn

Chẳng ai biết xe tự hành là gì, và nó đang là một vấn đề lớn

“Chúng ta đã có xe tự hành” Elaine Chao, người có thẩm quyền ngang với bộ trưởng giao thông Mỹ đã phát biểu trong một cuộc họp báo vào tháng năm với Fox Bussiness.” Chúng có thể tự lái trên đường cao tốc, đi theo vạch trắng trên đường và chúng chẳng cần ai ngồi sau để điều khiển cả”

Chẳng ai biết xe tự hành là gì, và nó đang là một vấn đề lớn

Hiểu như vậy là sai lầm nghiêm trọng.

Ngày nay bạn có thể dễ dàng mua một cái xe bình thường với bánh lái và phanh xe. Tesla, Cadillac, Mercedes-Benz, Lexus, và Audi đã, hoặc sắp, giới thiệu một vài thiết bị hỗ trợ lái xe. Nhưng hiện tại chẳng có gì có thể giúp bạn chợp mắt, lướt net hay chơi game khi đang lái xe cả. Trái ngược lại với suy nghĩ của Chao, ô tô ngày nay vẫn rất cần con người vận hành và giám sát trong trường hợp có gì đó xảy ra.

Đừng trách bà thư ký vì phát ngôn đó. Khi nói về một dòng xe mới có thể tự lái, chẳng ai hiểu họ đang nói về cái gì cả đâu. Bạn định nghĩa xe tự hành (self-driving) hay tự động, không cần người lái là gì? Công nghệ này làm gì, cụ thể như thế nào? Hệ thống của xe này khác xe kia như thế nào?

“Người dùng đang bị làm rối trí bởi các loại xe tự hành, tự lái và các loại xe tự động khác,” Greg Rogers, nhà phân tích chính sách của trung tâm Eno cho biết.

Có vẻ như truyền thông đang có một chút vấn đề với nội dung. Ngành công nghiệp ô tô, theo một nghiên cứu mới đây, đang làm rất tệ trong việc truyền đạt lại thông tin cho công chúng biết hệ thống mới của họ làm việc như thế nào. Theo một báo cáo từ tháng trước, các nhà nghiên cứu tại việt kỹ thuật Massachusetts đã thăm dò thử 450 người về chức năng của các hệ thống tự hành đang có hoặc sắp có trên thị trường. Kết quả của cuộc thăm dò thật sự rất hoang mang, đáng lo ngại.

Đa số người trả lời đều không thể ước lượng các chức năng đó làm gì dựa trên tên của chúng. Những người tham gia có vẻ hiểu những thuật ngữ đó rằng họ sẽ phải cảnh giác, theo dõi giống như cách họ đang làm việc với hệ thống kiểm soát hành trình hiện tại. (Tin tốt cho hệ thống Active Cruise Control của BMV và Intelligent Cruise Control của Nissan, hai hệ thống nãy theo dõi khoảng cách an toàn giữa hai xe)

Tuy nhiên họ đã bị rối một chút với cái tên của tính năng. Ví dụ như Pilot Assist của Volvo và Traffic Jam Assist của Audi. Vậy có nghĩa là hệ thống trợ giúp người lái hay người lái trợ giúp hệ thống?

(Kết quả nghiên cứu này đã loại trừ tính năng Autopilot của Tesla. Lý do đưa ra là những người tham gia đã quá quen thuộc với tính năng này để có được kết quả khách quan)

Bên ngoài phòng thí nghiệm, việc nhầm lẫn đó có thể sẽ khá nguy hiểm. Nó có thể khiến tài xế bước vào xe mà không biết trách nhiệm của họ sau vô lăng là gì. Những tính năng đó của các hãng đều tương tự nhau, nhưng sẽ có một vài khác biệt quan trọng.

Một số loại sẽ không hoạt động trên một vài loại đường, số khác có thể chạy thẳng nhưng không rẽ được; một số loại thì gần như cân hết mọi thứ, nhưng lại yêu cầu tài xế lâu lâu phải chạm tay vào vô lăng không thì nó sẽ nghỉ chạy.

“Nếu như các khái niệm khác nhau này được đặt tên không theo chuẩn mực nào, thì nó sẽ gây khó hiểu cho người dùng ngay khi họ mua và cả khi họ sử dụng sản phẩm,” Hillary Abraham, người đang nghiên cứu về cách con người tương tác với các hệ thống hỗ trợ lái tại MIT cho biết. “Việc hiểu các thuật ngữ ảnh hưởng như thế nào đến quan niệm của người tiêu dùng về chức năng của nó, cách nó liên quan đến các hệ thống khác trên thị trường là rất quan trọng,” Abraham cho hay.

Nguy cơ này sẽ chỉ dễ nhận thấy khi có nhiều xe tự hành hơn được tung ra thị trường. Hiện đã có hơn 40 nhà sản xuất nhăm nhe tung ra thị trường các mẫu xe với tính năng nâng cao. Cadillac và Audi sắp tung ra hệ thống hỗ trợ lái một phần; các nhà sản xuất khác sẽ sớm đưa ra câu trả lời ngay sau đó. Điều này có nghĩa là sẽ cần thêm rất nhiều nghiên cứu nữa về tên gọi sản phẩm. Cách người dùng sẽ sử dụng sản phẩm của họ như thế nào? Các nhà sản xuất ô tô sẽ quảng cáo chức năng ra sao? (Mercedes-Benz năm ngoái đã quảng cáo một cách rất dễ nhầm, tự gọi chiếc sedan E Class của hãng là tự lái) Và ngành công nghiệp xe sẽ huấn luyện người dùng sử dụng các chức năng mới này như thế nào?

Các nhà sản xuất đương nhiên là sẽ có nhiều cách để hướng dẫn người tiêu dùng cách sử dụng chứ không đơn thuần chỉ dựa vào quảng cáo và tên sản phẩm. Lấy ví dụ với các đại lý bán xe, khi người dùng định mua xe và lái thử và nói chuyện với người bán hàng chẳng hạn. Đây chính là cơ hội để các nhà sản xuất thông qua các đại lý giải thích cho người dùng cách hệ thống vận hành và giới hạn của hệ thống của họ ở đâu.

Một số hãng đã làm khá tốt việc này. Tính năng Eyesight của Subaru trong nghiên cứu của MIT chỉ có 13% người dùng trả lời đúng: đó là tính năng hỗ trợ khi đổi làn đường, cảnh báo va chạm và tự phanh khi cần thiết. Nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản khác đã dành một nguồn lực lớn để đào tạo các đại lý về tính năng của sản phẩm của mình.

Không hề bất ngờ, đa số mọi người đều không miêu tả rõ xem xe “tự lái” làm việc như thế nào. Khi Erin MacDonald đến một địa lý xe ở California để mua một chiếc xe với các tính năng tự động, cô phát hiện ra người bán hàng không hiểu biết nhiều về sản phẩm mà họ đang bán. “Họ không thể giải thích xem tính năng đó hoạt động ra sao, hạn chế của chức năng đó là gì, hoặc tình trạng như thế nào thì an toàn để sử dụng,” cô cho biết. MacDonald, một kỹ sư cơ khí và đã học qua về thiết kế sản phẩm tại đại học Standford, cuối cùng đành phải tự nghiên cứu về sản phẩm mà cô cần mua, sau đó lại phải mất công tự so sánh các tính năng giữa các hãng.

Đây thật sự là một vấn đề cho cả người dùng lẫn các nhà sản xuất. “Những gì bạn gọi là cái gì đó có thể là một hình thức hứa hẹn tiềm ẩn rằng, tính năng này có khả năng vận hành an toàn trong một số tình huống nhất định,” Ryan Calo, người chuyên nghiên cứu về robot và các luật ảo tại Đại học luật Washington cho biết. Trước tòa, thẩm phán có thể chấp nhận rằng ProPilot hoặc Autopilot có coi là đảm bảo để tự vận hành chiếc xe một cách an toàn.

Các kỹ sư thường sử dụng một ngôn ngữ đặc biệt cho việc tự động hóa, một hệ thống 5 tầng có thể cho tài xế cần làm gì và khi nào cần làm. Nhưng đây là một thứ gì đó rất kỹ thuật và còn cách khá xa chuẩn mực thông thường. Cứ hỏi thử thư ký Chao, người có vẻ như đang chịu trách nhiệm điều chỉnh các loại xe tự động thì biết.

Vậy có cách nào khác không?

Calo cho rằng các công nghệ bán tự động hiện nay khác nhau quá nhiều. Công nghệ của BMV khác của Nissan mà cũng không giống của Tesla tí nào.

Một số người khác lại không đồng ý. “Nghiên cứu này cần phải đưa vào thực tế, ngành công nghiệp xe phải giải quyết nó ngay,” Bryan Reimer, nhà nghiên cứu tại MIT – người nghiên cứu hành vi của tài xế và đang nghiên cứu về thương hiệu, cho biết. Ông cho rằng các nhà sản xuất xe tự động cần phải dẹp đi tính cá nhân và ngồi lại với nhau, bàn cách đặt tên tiêu chuẩn cho sản phẩm của mình để người dùng dễ hiểu hơn.

“Tự động hóa không phải là vấn đề về kỹ thuật nữa mà nó là vấn đề về hành vi, vấn đề về cách bạn phát triển kỹ thuật để hỗ trợ chúng tôi,” Reimer nói. Một chiếc xe tự hành hoàn toàn có thể đang xuất hiện. Nhưng hiện tại thì vẫn chưa. Trong lúc này, con người cần phải tỉm hiểu cách vận hành của chúng và sau đó miêu tả cái thứ công nghệ đang trợ giúp chúng ta.

Theo Wired

Botnet Reaper còn nguy hiểm hơn Mirai, đe dọa đánh sập mạng Internet

Sự phát triển nhanh chóng của loại botnet mới đe dọa có thể đánh sập mạng Internet

Chỉ một năm sau khi malware IoT – Mirai gây ra tình trạng ngừng hoạt động diện rộng trên Internet bằng các cuộc tấn công DDoS quy mô lớn. Các nhà nghiên cứu bảo mật đang cảnh báo lần nữa về một loại botnet nguy hiểm đang phát triển nhanh chóng.

Sự phát triển nhanh chóng của loại botnet mới đe dọa có thể đánh sập mạng Internet

Botnet này có tên là Reaper, được phát hiện lần đầu tiên bởi các nhà nghiên cứu tại công ty Qihoo 360. Phần mềm độc hại này hoạt động không còn dựa vào việc phá vỡ các mật khẩu yếu, mà chúng khai thác các lỗ hổng trong các mạng thiết bị Internet rồi đặt các thiết bị này vào một mạng lưới botnet.

Reaper được tiết lộ gần đây đã khai thác được 9 lỗ hổng của các nhà sản xuất:

  • Dlink (bộ đinh tuyến)
  • Netgear (bộ đinh tuyến)
  • Linksys (bộ đinh tuyến)
  • Goahead (camera)
  • JAWS (camera)
  • AVTECH (camera)
  • Vacron (NVR-Đầu ghi hình camera qua mạng Internet)

Các nhà nghiên cứu tin đã có gần 2 triệu thiết bị đã bị nhiễm Reaper và con số này tiếp tục tăng với tốc độ lây nhiễm là 10.000 thiết bị/ngày.

Điều này cực kỳ đáng lo ngại, vì chỉ cần 100.000 thiết bị bị nhiễm Mirai năm ngoái đã có thể chiếm quyền nhà cung cấp DNS là Dyn để tạo ra một cuộc tấn công DDoS khổng lồ.

“Hiện nay, botnet này vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, nhưng tác giả của nó đang tích cực sửa mã, đúng như sự cảnh giác của chúng tôi”. Các nhà nghiên cứu tại Qihoo 360 nói.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại CheckPoint cũng cảnh báo về botnet tương tự có tên “IoTroop”, đã lây nhiễm hàng trăm ngàn tổ chức.

“Còn quá sớm để đoán được ý định của các đối tượng đằng sau, nhưng với các cuộc tấn công Botnet DDoS trước đó thực sự đã ảnh hưởng đến lượng lớn thiết bị Internet, điều quan trọng là các tổ chức chuẩn bị và đưa ra phương án phòng thủ đúng đắn trước khi tấn công.” các nhà nghiên cứu cho biết.

Theo CheckPoint, phần mềm độc hại của IoTroop cũng khai thác lỗ hổng trong các thiết bị IP Camera không dây thuộc các hãng GoAhead, D-Link, TP-Link, AVTECH, Linksys, Synology và các sản phẩm khác.

Vào thời điểm này, vẫn chưa biết người tạo ra malware botnet và lý do, nhưng nguy hiểm từ những vụ tấn công DDoS đang tăng vọt. Người dùng cần cẩn trọng hơn về tính bảo mật trong các thiết bị thông minh đang sử dụng.

Theo Thehackingnews

Facebook đang nghiên cứu làm ảnh selfie động dựa trên tương tác bằng Emoji

Facebook đang phát triển Selfie bằng các hình Emoji

Các phiên bản trong tương lai của Facebook có thể làm hoạt hình cho ảnh profile của bạn, cũng như những người theo dõi có thể tương tác với chúng.

Facebook và Đại học Tel Aviv gần đây đã công bố kết quả của một nhà nghiên cứu tạo ra các selfies hoạt hình ngắn bằng cách bắt đầu với một bức ảnh thông thường.

Facebook đang phát triển Selfie bằng các hình Emoji

Ảnh chuyển động không phải quá mới mẻ, nhưng tất cả chúng  thường được làm từ video ngắn hoặc một chuỗi các bức ảnh tĩnh. Facebook và các nhà nghiên cứu từ Đại học Tel Aviv đã tạo ra một hình ảnh động chỉ sử dụng một bức ảnh. (Gần đây, một nhà nghiên cứu của Google đã thực hiện một dự án với điều tương tự, tạo ra một video bằng cách sử dụng trí thông minh nhân tạo và một bức ảnh)

Nhóm nghiên cứu này đã xây dựng phần mềm vẽ bản đồ khuôn mặt trên một đoạn video tham chiếu và áp dụng nó vào ảnh tĩnh. Hệ thống sử dụng một số dấu hiệu khuôn mặt và theo dõi sự thay đổi biểu hiện trong video.

Kết quả là một hình ảnh động rất giống emoji, nhưng vẫn còn thiếu ví dụ như răng. Nhóm nghiên cứu này sau đó đã lấy hình ảnh để tạo ra thuật toán và điền vào các chi tiết bị mất. Tất nhiên, những chi tiết bị mất có thể không khớp với ảnh, các nhà nghiên cứu nói rằng vì người ta thường không nhận diện được ai đó bởi răng của họ, thêm vào chi tiết bị mất tạo ra kết quả tốt hơn. Nhóm nghiên cứu sau đó đã tinh chỉnh các kết quả để thêm chi tiết tốt hơn và tăng cường biểu hiện như các nếp nhăn tạo ra từ hình ảnh động (không có trong ảnh ban đầu)

Ảnh tĩnh có thể tạo ra một số ứng dụng khác nhau để tạo ra hình ảnh động với ít dữ liệu, ví dụ như làm nụ cười của Mona Lisa. Nhưng như các nhà nghiên cứu đã chứng minh trong video của họ, công cụ này cũng có thể tạo ra những bức ảnh phản hồi trên các phương tiện truyền thông xã hội. Ví dụ, khi một người theo dõi nhấp chuột vào cảm xúc trên Facebook, hình ảnh có thể sinh động với một nụ cười, trong khi các phản ứng khác như buồn và tức giận có thể có những hình ảnh động phù hợp với những cảm xúc đó.

Nhóm nghiên cứu dự định tiếp tục phát triển chương trình bằng cách cho phép phần mềm chọn ảnh từ một thư viện và các đoạn video tương ứng với các nét trên khuôn mặt để tạo ra những hình ảnh động chính xác hơn, cũng như mở rộng công việc với các phương pháp 3D. Cùng với đó, việc theo dõi các biểu hiện trên khuôn mặt dường như là một lĩnh vực quan tâm cho nghiên cứu của họ. Dự án này sẽ được trình bày tại Sigggraph Asia vào tháng 11.

https://youtu.be/-RetOjL1Fhw

Dịch từ: digitaltrends

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

VPN (Virtual Private Network) là một công cụ hữu ích đáng chú ý cho bất cứ ai lên mạng, nó sẽ giúp cho bạn an toàn hơn khi sử dụng

Trong thời gian gần đây, ngày càng nhiều người quan tâm đến việc sử dụng các dịch vụ VPN. Điều này hầu như không đáng ngạc nhiên trong điều kiện giám sát gia tăng hiện nay, chưa kể đến các quy định như Đạo luật Điều tra tại Anh hoặc luật được thông qua tại Hoa Kỳ hồi đầu năm nay.

Nhưng VPN có thể làm gì cho bạn ngoài việc củng cố bảo mật của bạn ở mức cơ bản? Rất nhiều và có một số công dụng mà bạn có thể không biết. Bài này sẽ làm nổi bật 10 trường hợp sử dụng VPN cụ thể trong từng trường hợp.

1. Tránh sự theo dõi của ISP

Các ISP đang ngày càng quan tâm đến việc theo dõi các thuê bao của họ, như chúng ta đã thấy với cuộc tranh cãi ngày càng tăng trong thời gian gần đây ở Mỹ .

Tuy nhiên mối quan ngại giờ trở nên nghiêm trọng hơn khi các ISP được phép bán dữ liệu người dùng – như lịch sử lướt web, dữ liệu vị trí hoặc cách sử dụng ứng dụng của bạn – cho các bên thứ ba ở Hoa Kỳ.

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

Bất kể mức độ theo dõi nào bạn đang lo ngại, một giải pháp VPN được cài đặt trên tất cả các thiết bị của bạn – bao gồm cả điện thoại di động chính là một biện pháp phòng vệ hợp lý chống lại sự xâm phạm quyền riêng tư như vậy.

2. Mua sắm trực tuyến từ xa

Giả sử bạn đang đi ra nước ngoài và muốn đặt hàng từ nhà bán lẻ trực tuyến yêu thích của mình để chuyển đến nhà khi bạn trở lại. Nhưng thật không may, khi vào website của nhà bán lẻ bạn có thể bị chặn lại vì website giới hạn theo quốc gia truy cập. Nhưng nếu sử dụng VPN với máy chủ tại quốc gia của mình, bạn có thể truy cập website đó như thể bạn đang ở cùng quốc gia và sử dụng tài khoản của mình để họ gửi về nhà. Đó là một lợi thế không hề nhỏ của VPN.

3. Truy cập mạng gia đình

Lợi thế ở máy tính ở nhà là nó đầy đủ những tập tin và dữ liệu cho công việc, cá nhân vả giải trí. Bạn thậm chí có thể thiết lập ổ lưu trữ NAS với hơn cả tấn tập tin trên đó. Nhưng dù sao, bạn cũng mong muốn có thể truy cập từ xa vào máy tính hoặc ổ NAS để có thể lấy được tất cả các tập tin đó, nhưng hãy nhớ rằng để giữ an toàn cho truy cập này thì kết nối được thực hiện tốt nhất là thông qua VPN.

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

4. Wi-Fi công cộng và nỗi lo về bảo mật

Nhiều nơi cung cấp truy cập Wi-Fi miễn phí như trường học, khách sạn, thư viện, sân bay và quán cà phê. Tình huống phổ biến là bạn dùng các điểm truy cập không dây để kiểm tra email, khi đó mật khẩu và dữ liệu nhạy cảm khác của bạn được truyền đi.

Và không may là thực sự không quá khó để chặn đường truyền mạng không dây. Tại gia đình, bộ định tuyến có mật khẩu và sử dụng các giao thức mã hóa (như WPA2) để giữ an toàn đường truyền. Còn các điểm truy cập không dây công cộng cho phép truy cập hoàn toàn vào tất cả các thiết bị có hoặc không có mật khẩu nào trong nhiều trường hợp.

Khi đang sử dụng một mạng Wi-Fi không an toàn, bạn nên sử dụng VPN để lưu lượng truy cập của bạn được mã hóa, có nghĩa là ngay cả khi mạng đang bị hacker nghe lén, dữ liệu của bạn đã bị mã hoá và như vậy không bị đánh cắp. Lỗ hổng bảo mật Wi-Fi với phương thức khai thác đặt tên là Krack xuất hiện hồi tuần trước cũng nhấn mạnh rằng thậm chí những giao thức bảo mật hiện đại như WPA2 cũng có thể bị lỗi nghiêm trọng. Và trong trường hợp này, kết nối VPN cung cấp thêm một lớp bảo vệ.

5. Giữ riêng tư từ website thu thập thông tin

Có lượng không nhỏ các trang web trên mạng và họ đều cần phải tạo ra một thu nhập để duy trì hoạt động. Một trong những phương pháp tạo thu nhập phổ biến nhất là dùng quảng cáo. Nhưng khác với TV, quảng cáo trên internet thường được nhắm mục tiêu trực tiếp tại người dùng (thông qua địa chỉ IP của họ).

Có thể bạn từng chú ý rằng nếu tìm kiếm một thứ gì đó trên website như Amazon, khi truy cập trang web tiếp theo, bạn sẽ thấy các quảng cáo sản phẩm tương tự với cái mà bạn vừa tìm kiếm. Nếu kiểu theo dõi người dùng này làm phiền bạn thì một biện pháp tốt là dùng VPN, nó sẽ giúp ẩn đi IP thực của bạn và như thế các kiểu theo dõi trên là vô hiệu.

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

6. Tải dữ liệu nặc danh

Tải dữ liệu dạng peer-to-peer hoặc torrent vẫn tiếp tục phát triển và phổ biến. Dĩ nhiên trong khi chúng có thể được sử dụng cho việc tải các nội dung vi phạm bản quyền, bất hợp pháp. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp sử dụng hợp pháp, chẳng hạn như tải xuống một distro Linux hoặc phần mềm nguồn mở như LibreOffice (thay thế miễn phí cho Microsoft Office).

Quá trình tải xuống này được đi kèm bởi các trình theo dõi torrent, hệ thống giám sát theo thời gian có thể lưu trữ được một kho tàng thông tin về người dùng của họ. Mặc dù mối quan tâm rõ ràng nhất là dữ liệu này có thể được chuyển cho các cơ quan chức năng, thông tin này thường đơn giản là có thể bán cho người đấu giá cao nhất. Vì kiểu thu thập dữ liệu này dựa trên địa chỉ IP, việc sử dụng torrent qua VPN là giải pháp đơn giản và hiệu quả nhất để ngăn chặn bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào.

7. Kết nối vào khuôn viên trường đại học

Cho dù khuôn viên trường đại học hay nơi làm việc rộng lớn, các tổ chức này có một lượng lớn tài nguyên máy tính cho cho sinh viên hoặc nhân viên của họ. Nhưng các trường đại học và doanh nghiệp cũng cần phải bảo vệ dữ liệu quý báu của mình, vì vậy bất kỳ sự truy cập từ bên ngoài nào cũng cần được bảo vệ phù hợp, và VPN có thể thực hiện nhiệm vụ này.

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

8. Truyền nội dung bị ngăn chặn

Giới hạn địa lý đề cập đế những nội dung Internet bị chặn dựa trên vị trí của người dùng. Điều này thường được thực hiện trong trường hợp chương trình truyền hình hoặc phim ảnh, ví dụ như truy cập vào iPlayer bị chặn đối với người dùng bên ngoài nước Anh.

Tuy nhiên đôi khi điều này có thể gây phiền toái, chẳng hạn khi bạn đi du lịch ra nước ngoài và không thể xem tập mới nhất của các chương trình trên Netflix vì nó bị chặn vị trí . Một VPN với máy chủ đặt ở quốc gia thích hợp có thể giải quyết vấn đề này.

9. Vượt qua Traffic Shaping

Mục đích của Traffic Shaping (TS) là làm giảm tốc độ truyền các gói tin. Việc tạo ra lưu lượng truy cập thường được thực hiện bởi các ISP để đảm bảo một mức hiệu suất và chất lượng nhất định. Tốc độ gói tập tin phát hành có thể được điều chỉnh để duy trì lưu lượng ổn định.

Nếu tốc độ lưu lượng truy cập vượt quá giới hạn, một số gói tin sẽ bị loại bỏ. Traffic shapping và traffic policing thường được sử dụng cùng nhau để điều chỉnh băng thông, hạn chế người sử dụng truyền hoặc tải xuống. Với VPN đường truy cập được mã hóa, do đó nó chống lại những phân tích này và do đó việc giảm băng thông sẽ được tránh.

Đừng coi nhẹ VPN, thực sự kết nối bảo mật này rất an toàn cho nhiều trường hợp

10. Làm nản lòng hacker

Bạn có thể nhận ra tường lửa nằm trên router được thiết kế để giữ cho kẻ tấn công khỏi mạng gia đình (tất nhiên bạn cũng có thể dùng các phần mềm tường lửa và chỉ bảo vệ máy được cài).

Những hacker tìm thấy mạng của bạn từ địa chỉ IP. Khi bạn kết nối với máy chủ qua một VPN và gán cho bạn một địa chỉ IP khác, trong bất kỳ cuộc tấn công nào cũng sẽ được nhắm tới máy chủ VPN chứ không phải mạng gia đình của bạn.

Do đó VPN hữu hiệu là một lớp bảo vệ bổ sung khỏi hacker và các mối đe doạ độc hại khác từ Internet

Dịch từ: techradar

Trang trại điện sức gió nổi trên biển đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động

Trang trại điện sức gió nổi trên biển đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động

Những chiếc tuabin chạy bằng sức gió đang được lắp đặt trên biển để tạo ra điện, đủ để có khả năng cung cấp năng lượng trên toàn thế giới mà không gây ra sự ô nhiễm.

Trang trại điện sức gió nổi trên biển đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động

Trong khi chúng ta vẫn chưa hiện thực hóa được điều đó, một hãng máy phát điện bằng sức gió với thương hiệu mới ở Scotland có bước tiến đột phá lớn trong tương lai.

Dự án Hywind chính thức bắt đầu sản xuất điện cách khoảng 16 dặm ngoài bờ biển Scotland hôm thứ Tư. Đó là một công trình ấn tượng của ngành kỹ thuật mà sẽ tạo ra đủ điện để có thể phục vụ đến 20.000 hộ gia đình.

Kích thước của các tuabin đặt ra thách thức làm sao mà chúng có thể nổi được trên mặt biển với cân nặng nặng đến 12.000 tấn và cao 830 feet từ đỉnh đến phần đế và gấp ba lần so với chiều cao của Tượng Nữ thần Tự do. Phần đế được giữ cố định một cách chắc chắn, vì vậy mỗi tuabin có thể đứng thẳng trên mặt biển. Để giữ cho các tuabin không bị trôi trên biển, một chuỗi các dây xích dài khoảng 1,5 dặm và trọng lượng 1.200 tấn được gắn vào chiếc neo khổng lồ dưới đáy đại dương.

Trang trại điện sức gió nổi trên biển đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động

Việc cài đặt không chỉ một mà những 5 chiếc tuabin gió mất chi phí quả là không hề rẻ. Chi phí hỗ trợ của công ty dầu khí Statoil của Na Uy là 263 triệu USD. Việc sản xuất năng lượng từ những trang trại nổi (hoặc “công viên” như họ gọi nó ở Scotland) vẫn đắt hơn so với sản trên đất liền hay cận bờ biển.

Tuy nhiên, dự án Hywind không chỉ sử dụng một vài máy tốn kém của Rube Goldberg, việc thiết kế các tua-bin gió ở ngoài biển cho phép chúng được đặt ở mức nước sâu đến 730m. Trong khi đó tuabin ngoài khơi chỉ có thể được đặt trong độ sâu 60m nước.

Việc thiết kế nổi sẽ cho phép Statoil đặt tuabin gió xa hơn trên vùng biển nơi có sức gió mạnh và ổn định hơn. “Những bài học từ Hywind ở Scotland sẽ mở đường cho các cơ hội của thị trường trên toàn cầu về năng lượng gió ngoài khơi,” Irene Rummelhoff – phó chủ tịch điều hành tại Statoil cho biết.

Trang trại điện sức gió nổi trên biển đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động

Một nghiên cứu gần đây của Viện Hàn Lâm Khoa học Mỹ (PNAS) phát hiện ra rằng các trang trại gió trong vùng Bắc Đại Tây Dương có thể tạo ra năng lượng điện hơn gấp 4 lần so với trên đất liền, biến khu vực này thành một khu trang trại gió khổng lồ mà về mặt lý thuyết sẽ có thể sản xuất đủ điện để cung cấp cho toàn bộ thế giới.

“Chúng tôi thấy rằng có một điều gì đó thực sự đặc biệt về một số vùng biển như Bắc Đại Tây Dương, nơi có tỷ lệ cao hơn đáng kể về nguồn năng lượng có được nhờ sự thuần túy về địa vật lý”, Anna Possner tiến sĩ nghiên cứu tại Viện Khoa học Carnegie trả lời với Earther.

Một số doanh nghiệp cũng đang cân nhắc việc tạo ra những chiếc máy tạo ra điện bằng sức gió ngoài khơi California, nơi thềm lục địa bị lún xuống các vùng nước sâu hơn một cách nhanh chóng.

Điều đó có vẻ gây ngạc nhiên từ khi Statoil phát triển trang trại gió ở Scotland, vì họ là một công ty dầu khí. Trong những năm gần đây, Statoil đã phát triển một số dự án sản xuất điện từ sức gió ngoài khơi xung quanh Liên minh châu Âu, triển khai phương án thu giữ carbon và dự án chống lại sự ô nhiễm môi trường như một lộ trình phát triển việc kinh doanh.

https://www.youtube.com/watch?v=OwSgbW4Xptk

Dự án Hywind cuối cùng sẽ được nối với một nguồn năng lượng tạo ra bởi Masdar – một công ty năng lượng tái tạo từ các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, việc lưu trữ năng lượng rất quan trọng đối với các trang trại máy phát diện bằng sức gió, vì như vậy mới đảm bảo rằng bạn vẫn luôn có sẵn nguồn năng lượng để tiêu thụ ngay cả khi gió không thổi.

Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có vẻ cũng như có động thái kỳ lạ, vì họ là một trong những nhà sản xuất dầu ỏm lớn nhất thế giới. Nhưng điều này rõ ràng sẽ viết lên một trang mới cho ngành nhiên liệu hóa thạch, và cả Statoil lẫn UAE đều đã có những nỗ lực để bắt đầu chuyển đổi cách thức hoạt động để chuẩn bị cho những hành trình thực tế mới. Công viên gió Hywind có vẻ như là cơ sở cho những tham vọng trong tương lai của họ.

Dịch từ: earther 

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Canon đã lấy cảm biến của chiếc máy bán chuyên ngon nhất của họ – Canon 80D – để dùng cho một mẫu máy ảnh bỏ túi nhỏ gọn Powershot G1X Mark III. Máy sẽ dùng ống 24-72mm, f2.8-5.6 và sẽ được tung ra vào tháng 11 với giá 1.299USD.

Phiên bản G1X Mark III vừa là bản nâng cấp của dòng Powershot G1X, vừa là kế thừa của chiếc G5X. Chiếc G1X mark I và II là một trong những chiếc máy bỏ túi cao cấp mà Canon đã tung ra trong vòng 5 năm qua. Tuy nhiên, ngày nay rất khó để bán những chiếc máy như vậy do sự phổ biến của các smartphone chụp ảnh.

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Chiếc G5X trong khi đó là một chiếc máy ảnh nhỏ gọn nhưng có rất nhiều chức năng. Nó dường như được thiết kế để thỏa mãn những khách hàng vừa muốn có thể chụp manual với một chiếc máy ảnh nhỏ, vừa muốn giơ lên chụp phát ăn luôn.

Người kế nhiệm G5X

Với G1X Mark III, Canon đã bỏ phần thiết kế phẳng và thay vào đó là hai bánh xe quay của G5X với một vài thay đổi nhỏ. Canon gần như là đã gộp hai dòng compact vào làm một và sử dụng cảm biến của chiếc 80D với hệ thống lấy nét Dual Pixel. Công ty có vẻ như rất tự hào về chất lượng của chiếc cảm biến này. Họ đã sử dụng nó cho cả hai chiếc mirorrless M5, M6. (G1X Mark III cũng sử dụng cùng bộ xử lý ảnh DIGIC 7)

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Chiếc G1X Mark III được thiết kế nhỏ gọn như G5X với khung bằng kim loại và plastic. Điều này giúp máy nhẹ hơn chừng 150 grams so với chiếc G1X Mark II (533 và 399gr). Tuy nhiên chiếc G1X vẫn có rất nhiều nâng cấp đáng chú ý. Viewfinder điện tử là một ví dụ. Chiếc viewfinder điện tử này là một chiếc màn OLED có độ phân giải 2.36 triệu điểm ảnh. Bản thân G1X Mark III cũng có một màn hình cảm ứng 3 inch. Màn hình này có thể xoay 1 góc 270 độ. Máy cũng có chức năng chạm để lấy nét, trong khi nhìn qua viewfinder như M5 vậy

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Canon G1X Mark III là một chiếc compact khá nhanh. Máy có thể chụp tới 7 khung hình/giây. Trong lúc chụp liên tiếp máy vẫn có khả năng liên tục lấy nét. Nếu tắt chức năng này, máy có thể chụp tới 9 khung hình/giây. Dù rằng con số này vẫn chưa là gì khi so với 24 hình/giây của Sony RX100 V, nhưng với đa số người dùng vậy là khá đủ. Ngoài ra máy còn có Wi-Fi, Bluetooth và NFC nữa.

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Điểm trừ lớn nhất lại chính là ống kính

Với giải ISO từ 100-25.600, chiếc G1X Mark II có thể chụp tốt trong điều kiện thiếu sáng. Dải ISO này vẫn đủ mạnh, dù cho khi zoom ra thì khẩu độ sẽ bị khép lại một chút. Chiếc G1X Mark II, trong khi đó lại dùng ống 24-120mm với khẩu từ f2.0-3.9. Vậy nên sẽ cần có thời gian để biết được việc hy sinh một chút về ống kính để dùng với cảm biến và bộ xử lý hình ảnh tốt hơn sẽ ra sao.

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Nhưng thiếu sót lớn nhất mà bạn có thể đã nhận ra nếu như theo dõi sản phẩm của Canon trong vài năm qua chính là quay video 4K. Chiếc G1X Mark III  không có khả năng này. Máy chỉ có thể quay video 1080p với 60 khung hình/giây.

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Có nhiều người cần quay video 4K không? Mình nghĩ câu trả lời vẫn, đa số, là không. Nhưng vẫn có rất nhiều lý do để bạn quay video 4K. Tương lai chắc chắn sẽ có một cái G1X Mark IV – hay tương tự- sẽ phải có chức năng này.

Canon dùng cảm biến của máy DSLR cho máy ảnh bỏ túi G1X Mark III

Canon cho rằng máy compact với mirrorless hay 1 chiếc DSLR dưới 3000 USD thì chưa cần video 4K lắm. Nhưng với giá 1299USD, đòi hỏi video 4K có vẻ như không hề quá đáng tí nào. Chức năng này đáng lẽ nên có trên G1X Mark III.

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Sáng nay 21/10, Thế Giới Di Động tại địa chỉ số 136 Nguyễn Thái Học, Quận 1, TP.HCM đã chính thức mở bán chiếc Huawei Nova 2i, smartphone được xem là “phá đảo” trong phân khúc tầm trung hiện nay.

Rất đông người dùng đã đặt cọc trước đó đế để nhận máy cũng như nhiều phần quà tặng hấp dẫn đi kèm.

Với thời gian cho phép đặt hàng từ ngày 10/10 đến hết ngày 20/10, Thế Giới Di Động đã nhận được hơn 5000 đơn đặt mua và trong ngày mở bán chính thức đã rất đông khách hàng đặt trước đến nhận máy. Ngoài ra, 100 khách hàng đầu tiên khi đến nhận máy sẽ được nhận ngay bộ loa Harman Kardon Onyx Studio 3 vô cùng hấp dẫn đi kèm với bộ quà tặng đi kèm theo chiếc Huawei nova 2i bao gồm gậy selfie, giá đỡ đeo tay và tai nghe.

Theo đại diện Thế Giới Di Động, số lượng điện thoại Huawei Nova 2i đến tay khách hàng trong ngày đầu tiên đạt được vượt ngoài mong đợi. Trong sáng nay, Thế Giới Di Động cũng đã trao tặng cho 200 khách hàng đầu tiên đặt cọc Huawei nova 2i với phần quà là bộ loa Harman Kardon. Với 1000 khách hàng tiếp theo sẽ nhận được bộ quà tặng của Huawei là tai nghe, miếng dán và gậy selfie.

Huawei Nova 2i là smartphone đầu tiên của Huawei trang bị đến 4 camera bao gồm 2 trước và 2 sau, máy cũng sở hữu cùng màn hình tràn viền ấn tượng với tỷ lệ 18:9. Nova 2i thuộc phân khúc smartphone tầm trung, đang được bán độc quyền tại hệ thống Thế Giới Di Động với mức giá 5.990.000đ.

Hình ảnh mở bán Huawei nova 2i tại Thế Giới Di Động:

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i
Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Thế Giới Di Động chính thức giao hàng đợt 1 chiếc Huawei Nova 2i

Ảnh: Trần Ngọc Phước